Articles

Báo cáo tổng kết công tác nghiên cứu khoa học Khoa Nông - Lâm

Báo cáo tông kết công tác nghiên cứu khoa học của Khoa Nông - Lâm từ khi thành lập Khoa đến nay

 

TRƯ­­­ỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC   CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

   KHOA NÔNG - LÂM                       Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

       -- -----------                               --------------------

                                          Sơn La, ngày 5 tháng 1 năm 2012

 BÁO CÁO TỔNG KẾT  CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

TỪ KHI THÀNH LẬP KHOA ĐẾN NAY

 

I/ BỐI CẢNH

          Trường Đại học Tây Bắc được thành lập năm 2001 trên cơ sở Trường Cao đẳng sư phạm Tây Bắc. Từ khi thành lập cho đến nay ngành nghề và quy mô đào tạo của Trường ngày một tăng, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học cũng ngày một được cải thiện, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tây Bắc nói riêng và đất nước nói chung.

          Khoa Nông Lâm được thành lập ngày 9 tháng 1 năm 2006 trên cơ sở Ban Kinh tế - Nông – Lâm, từ khi thành lập cho đến nay mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, đội ngũ giảng viên hướng dẫn còn hạn chế về kinh nghiệm. Tuy nhiên, bước đầu cũng đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ

1. Công tác nghiên cứu của giảng viên, cán bộ:

          Hiện nay đóng góp vào xu thế phát triển của xã hội, thì công tác nghiên tác nghiên cứu khoa học nói chung và công tác nghiên cứu trong các trường Đại học nói riêng giữ vai trò rất quan trọng. Ở trường ta, đối với các ngành thuộc khối sư phạm công tác này cũng đã phát triển mạnh, tuy nhiên những đề tài nghiên cứu của giáo viên sau khi hoàn thành, tính ứng dụng chưa được cao. Đối với các ngành nông - lâm nghiệp, với đội ngũ giảng viên trẻ, năng động, nhiệt tình. Tuy nhiên, kinh nghiệm cọt sát còn nhiều hạn chế. Nhu cầu nghiên cứu đề tài của giảng viên cũng tương đối lớn, nhưng số lượng đề tài cấp trường thực hiện không nhiều.

          Bên cạnh đó, đối với những đề tài nghiên cứu khoa học thực nghiệm nói chung, các ngành nông - lâm nghiệp nói riêng cũng cần một số kinh phí đủ đảm bảo mới thực hiện có chất lượng được. Hiện nay, kinh phí dành cho các đề tài nghiên cứu khoa học của giáo viên, sinh viên cấp trường và cấp khoa là tương đối thấp, do vậy những chủ nhiệm đề tài gặp rất nhiều khó khăn, dẫn tới chất lượng không cao, tính ứng dụng, triển khai vào thực tế rất hạn chế.

2. Công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên:

          Nói chung chất lượng các đề tài còn nhiều hạn chế, tính ứng dụng thực tiễn thấp, do một số nguyên nhân sau:

- Thiếu tài liệu, sách tham khảo cho  việc nghiên cứu.

- Trang, thiết bị phục vụ học tập, nghiên cứu thiếu nhiều.

- Đối với những đề tài thực nghiệm, cần mua vật tư nhiều, nhưng mức kinh phí hỗ trợ 300.000 đồng/ 1 đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường và 200.000 đồng/1 đề tài nghiên cứu khoa học cấp khoa là rất thấp và đối với sinh viên càng khó khăn dẫn tới chất lượng không cao.

- Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu của sinh viên theo năm học, tức là từ tháng 9 năm trước đến tháng 6 năm sau, như vậy là rất ngắn. Bên cạnh đó một số đề tài còn liên quan đến mùa vụ, một số đề tài phải theo dõi, thực hiện thí nghiệm trên 1 năm, thì chưa có kết quả hoàn thiện, do đó tính khả thi và tính ứng dụng không cao.

II/ MỘT  SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TỪ KHI THÀNH ĐÀO TẠO NGÀNH NÔNG – LÂM NGHIỆP CHO ĐẾN NAY. (Chi tiết xin xem phần phụ lục kèm theo)

1. Đối với cán bộ, giảng viên:

1.1. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ:             10 đề tài

1.2. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh:           4 đề tài

1.3. Dự án hợp tác Quốc tế:                              8 dự án

1.4. Đề tài hợp tác nghiên cứu trong nước:          2 đề tài

1.5. Tham gia tập huấn, chuyển giao kỹ tiến bộ khoa học kỹ thuật:

1.6. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường:        21 đề tài

1.7.Đề tài nghiên cưú khoa học cấp khoa:             18 đề tài

          Các nghiên cứu của các thầy cô là khá đa dạng và liên kết với nhiều tổ chức, cơ quan khác nhau.

- Các dự án đoạt giải Ngày Sáng Tạo Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam tài trợ như: Nghiên cứu mô hình trồng cây Trám đen và cây Me trên đất canh tác nương rẫy của cộng đồng người Thái xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Xây dựng mô hình trồng hoa, làm nấm cho trẻ em thiệt thòi tại Trại trẻ mồ côi tỉnh Sơn La; Sử dụng nấm rừng một cách an toàn tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nâng cao tính minh bạch, hình thành văn hoá chống tham nhũng trong cộng đồng,…

- Các đề tài cấp Bộ như: Điều tra, đánh giá tác hại của những loài côn trùng gây hại chủ yếu trên cây trồng nông nghiệp ở tỉnh Sơn La; Xây dựng bộ tiêu bản và bộ sưu tập ảnh các loài thực vật bậc cao của khu hệ thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Côpia; Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và kỹ thuật gây trồng một số loài tre, trúc bản địa tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Xây dựng mô hình trồng Sa nhân tím dưới tán rừng trồng và trên đất canh tác nương rẫy tại xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Tuyển chọn và phát triển giống lúa mới năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh cho huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Khảo nghiệm và xây dựng  mô hình trồng cây Tô hạp Điện Biên tại các địa phương vùng Tây Bắc, …

- Các đề tài cấp Tỉnh như: Nghiên cứu chọn lọc, nhân giống và gây trồng song, mây thương phẩm tại tỉnh Sơn La; Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng và phát triển Rau bò khai, Rau sắng tại Sơn La,…

          Đặc biệt là hiện nay Khoa ta đang có một Chương trình hợp tác khá lớn với cơ quan hợp tác Nhật Bản (JICA) với dự án “Nâng cao năng lực của giảng viên Trường Đại học Tây Bắc góp phần xói đói, giảm nghèo cho nhân dân vùng Tây Bắc”

          Và rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, cấp Khoa.      Điển hình và đi đầu trong công tác nghiên cứu khoa học của Khoa là các thầy, cô giáo như: thầy Đoàn Đức Lân, Vũ Quang Giảng, Phạm Quang Thắng, Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Tiến Dũng, Cô Đinh Thị Hoa, Hoàng Thị Thanh Hà,…

2. Đối với sinh viên

* Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường: 61 đề tài, với 148 sinh viên tham gia. Cụ thể:

+ Năm học 2004 – 2005: với 3 đề tài, với 8 sinh viên tham gia

+ Năm học 2005 – 2006: 4 đề tài, với 10 sinh viên tham gia. Trong đó 2 đề tài đạt loại xuất sắc, 2 đạt loại giỏi.

+ Năm học 2006 – 2007: 6 đề tài, với 15 sinh viên tham gia. Trong đó 3 đề tài đạt loại xuất sắc, 2 đạt loại giỏi và 1 đạt loại khá.

+ Năm học 2007 – 2008: 13 đề tài, với 34 sinh viên tham gia. Trong đó 4 đề tài đạt loại xuất sắc và 9 đạt loại giỏi. Trong năm học này, Khoa ta gửi 1 đề tài tham dự “Giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học” do Bộ Giáo dục tổ chức, đề tài đã đoạt giải khuyến khích giải thưởng “sinh viên nghiên cứu khoa học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

+ Năm học 2009 – 2010: 11 đề tài, với 32 sinh viên tham gia. Trong đó7 đề tài đạt loại xuất sắc và 4 đề tài đạt loại giỏi. Đặc biệt trong năm học này, Khoa ta gửi 1 đề tài đi dự “Giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học” do Bộ Giáo dục tổ chức, đề tài này đã đoạt 2 giải ba:  Giải ba: Giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và giải ba: Quỹ sáng tạo trẻ VIFOTEC.

+ Năm 2010 – 2011: 12 đề tài, với 24 sinh viên tham gia

+ Năm 2011 – 2012: 13 đề tài, với 29 sinh viên tham gia

* Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa: 157 đề tài, với 491 lượt sinh viên tham gia.

          Điển hình trong công tác nghiên cứu khoa học là các sinh viên như: Tẩn Mý Dao, Lò Thị Phượng – K47 ĐH Nông học (đoạt giải khuyến khích cấp Bộ); Nguyễn Thị Thu Hường, Nguyễn Ngô Sơn – K44 ĐH Lâm sinh; Nguyễn Thị Hồng Nụ, Hoàng Thị Hải, Cầm Thị Hằng – K 47 ĐH Nông học, Nhữ Thương Trần Huyền, Trịnh Xuân Thắng – K47 ĐH Lâm sinh; Cù Thị Thanh Lộc, Lê Văn Đạo, Bùi Hoàng Long – K48 ĐH Lâm sinh (đoạt 2 giải ba: Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quỹ sáng tạo trẻ VIFOTEC); Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học, Đỗ Thị Dương – K49 ĐH Nông học,…

Để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của sinh viên cần thiết phải trang bị cho sinh viên các kiến thức về phương pháp luận nghiên cứu khoa học để tư duy của sinh viên phát triển hướng đến nhận thức sự vật hiện tượng của đời sống xung quanh không ngừng phát triển. Với tư duy đó, sinh viên luôn tìm đến những giá trị tốt đẹp hơn những điều hiện có nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống. Sinh viên luôn đặt ra các câu hỏi về những vấn đề cần quan tâm giải quyết, đưa ra nhiều giả thuyết và tìm cách chứng minh giả thuyết một cách cách khoa học.      

Phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học độc lập giúp sinh viên phát hiện vấn đề, xây dựng đề cương, tổ chức thực hiện, phương pháp thực hiện, tìm kiếm tài liệu, thu thập thông tin, thí nghiệm, quan sát, phân tích số liệu, thử nghiệm kết quả, viết báo cáo và trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học. Với công việc nghiên cứu khoa học, sinh viên có điều kiện vận dụng kiến thức để thực hiện các ý tưởng khoa học của mình khi còn học ở trường và vận dụng vào thực tiễn trong cuộc sống sau này. Bên cạnh đó, đối với sinh viên ngành Nông Lâm thì việc gắn kết các đề tài nghiên cứu với thực tiễn sản xuất là rất quan trọng. Trong một số năm trở lại đây, một số nghiên cứu của sinh viên đã được gắn với các chương trình, đề tài nghiên cứu của các giảng viên chuyên ngành, sinh viên được rèn luyện kỹ năng nghiên cứu, được triển khai tại thực tiễn sản xuất và điều quan trọng là có nguồn kinh phí hỗ trợ đảm bảo cho công tác nghiên cứu đạt hiệu quả.

Kết quả từ năm 2006 đến nay đã có trên 20 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên khoa Nông Lâm gắn kết, làm những chuyên đề nhánh trong các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh, các chương trình hợp tác Quốc tế mà giảng viên trong Khoa thực hiện. Nói chung kết quả của các đề tài này có chất lượng cao hơn các đề tài không nằm trong các đề tài, chương trình nghiên cứu của giảng viên.

Bên cạnh đó, vấn đề về chất lượng và số lượng các nghiên cứu khoa học trong sinh viên một số năm gần đây trở thành chủ đề trên nhiều diễn đàn công luận. Số lượng đề tài tăng lên nhưng khả năng ứng dụng của các đề tài còn hạn chế. Tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu tăng lên nhưng tính thụ động trong học tập và nghiên cứu vẫn chưa được cải thiện đáng kể, do một số nguyên nhân sau:

- Thiếu tài liệu, sách tham khảo cho  việc nghiên cứu.

- Trang, thiết bị phục vụ học tập, nghiên cứu thiếu nhiều.

- Đối với những đề tài thực nghiệm, cần mua vật tư nhiều, nhưng mức kinh phí hỗ trợ 300.000 đồng/1 đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường và 200.000 đồng/1 đề tài nghiên cứu khoa học cấp khoa là rất thấp và đối với sinh viên càng khó khăn dẫn tới chất lượng không cao.

- Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu của sinh viên theo năm học, tức là từ tháng 9 năm trước đến tháng 6 năm sau, như vậy là rất ngắn. Bên cạnh đó một số đề tài còn liên quan đến mùa vụ, một số đề tài phải theo dõi, thực hiện thí nghiệm trên 1 năm, thì chưa có kết quả hoàn thiện, do đó tính khả thi và tính ứng dụng không cao.

III/ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC NCKH ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

Các đề tài nghiên cứu của giảng viên, sinh viên trong lĩnh vực nông – lâm của Trường Đại học Tây Bắc khá đa dạng, với mục tiêu kết hợp giữa đào tạo, gắn kết với thực tiễn sản xuất, nhiều đề tài nghiên cứu của sinh viên gắn kết với các chương trình, đề tài của các thầy cô, từ các kết quả nghiên cứu làm cơ sở để xây dựng các tài liệu tham khảo cho sinh viên, làm phong phú, sinh động trong các bài giảng hơn, là tài liệu tham khảo cho các nhà chuyên môn; cẩm nang tốt phục vụ cho công tác sản xuất của nông dân địa phương, góp phần của nhà trường trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái cho cộng đồng các dân tộc vùng Tây Bắc của tổ quốc.

IV/ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TIẾP THEO CHO CÔNG TÁC NCKH

          Phát huy những thành tựu bước đầu đã đạt được trong công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nhằm theo kịp các tiến bộ không ngừng trong lĩnh vực khoa học công nghệ trên thế giới, ở ViệtNam và phù hợp với vùng Tây Bắc, mang tính chất đặc thù của vùng. Công tác nghiên cứu khoa học của khoa Nông Lâm của Trường Đại học Tây Bắc sẽ tập trung theo một số hướng sau:

- Canh tác bền vững trên đất dốc, nông – lâm kết hợp, bảo tồn và phát triển nguồn lâm sản ngoài gỗ.

- Xây dựng mô hình phát triển kinh tế phù hợp cho vùng di dân tái định cư thuỷ điệnSơn La.

- Sản xuất nông – lâm nghiệp theo hướng tạo ra các sản phẩm an toàn: nền nông nghiệp hữu cơ, khai thác thế mạnh của nguồn gen vật nuôi, cây trồng và sinh vật bản địa.

- Bảo tồn đa dạng sinh học.

- Công tác khuyến nông, khuyến lâm.

- Phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình, chế biến, tiêu thụ nông, lâm sản, phát triển ngành nghề thủ công cho nông thôn miền núi.

- Bảo vệ, phục hồi, khai thác hợp lý, phát triển tài nguyên (rừng, đất, nước ...)

- Hạn chế ô nhiễm môi trường khi phát triển các khu dân cư, đô thị...

- Tham mưu cho lãnh đạo các cấp, xây dựng chiến lược thành lập Công ty dịch vụ KHKT, trực thuộc Trường ĐH Tây Bắc.

V/ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Để đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng của các đề tài, đối với nhà trường:

- Tiếp tục đầu tư kinh phí mua sắm giáo trình, tài liệu, sách, báo tham khảo chuyên ngành.

- Xem xét và tăng hỗ trợ về kinh phí cho những đề tài nghiên cứu thực nghiệm của giảng viên và sinh viên.

- Nên mở rộng các mối quan hệ, liên kết với các địa phương, các đơn vị để giúp các giảng viên được cọ sát, được tham gia nghiên cứu, học hỏi các hướng nghiên cứu khoa học, vừa để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, vừa tạo thêm thu nhập để cải thiện đời sống cho giáo viên, cán bộ. Đặc biệt là các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu trong NCKH và Chuyển giao công nghệ

- Đầu tư trang thiết bị, xây dựng các trạm thực hành, thí nghiệm phục vụ cho học tập và nghiên cứu của giáo viên, sinh viên theo đặc thù từng chuyên ngành.

- Cần xem xét đặc thù của từng chuyên môn để hỗ trợ kinh phí cho phù hợp hơn (đối với khối Nông, Lâm nghiệp, cần hỗ trợ mức cao hơn hiện nay).

- Cho phép những đề tài nghiên cứu tuỳ theo nội dung, công việc, tuỳ theo đặc điểm cụ thể, thời gian thực hiện cho phù hợp, một số đề tài cho phép thực hiện trên 1 năm.

 

K.T TRƯỞNG KHOA

                                                                                                         P. Trưởng Khoa


                                                                                                           Cao Đình Sơn