BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIỐNG ĐÀO ĐỊA PHƯƠNG TẠI KHU VỰC PHA ĐIN NĂM 2012

Trong năm 2012 chúng tôi đã tiến hành điều tra tình hình trồng và tiêu thụ đào tại địa điểm nghiên cứu và một số địa điểm trồng đào khác, bố trí được một số thí nghiệm về các biện pháp kĩ thuật. Qua điều tra chúng tôi đã thu được một số kết quả nhất định về tình hình trồng đào:hiện nay mỗi hộ chỉ còn từ 5 đến 10 cây đào trồng từ rất lâu và trồng xen với một số loại cây ngắn ngày ở trên nương đồi hiện nay đã thoái hóa rất nhiều, quả bị ruồi đục quả hại nặng, người dân không bón phân và phòng trừ sâu bệnh cho cây đào, do địa bàn trồng đào dốc nên việc vận chuyển sản phẩm khó khăn, thị trường tiêu thụ quả đào không ổn định.

1. Đặt vấn đề

Cây đào (danh pháp khoa học: Prunus persica) là một loài cây có nguồn gốc từ Trung Quốc, là một trong những cây ăn quả ôn đới, được trồng từ hơn 3000 năm trước. Trên thế giới, cây đào là cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng và giá trị hàng hóa cao, được trồng nhiều ở Trung Quốc, Ý, Mỹ, Úc …Các nghiên cứu trên thế giới đã chọn được những giống đào có năng suất cao, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp có giá trị hàng hóa thuộc 3 nhóm chính là Nectarines, Freestone peaches và Clingstone peaches với mục đích thương mại khác nhau. Các nhà nghiên cứu cũng đã xác định được điều kiện sinh thái phù hợp với cây ôn đới nói chung và cây đào nói riêng đó là những vùng có số giờ lạnh trung bình khoảng 500-900 giờ dưới 5-7o C.

Sơn La và Điện Biên là vùng đào nổi tiếng ở vùng núi phía bắc Việt Nam, có điều kiện tự nhiên cho cây đào sinh trưởng phát triển. Đào H’mông còn được coi là đặc sản và niềm tự hào của đồng bào dân tộc Tây Bắc. Hiện nay do việc nhân giống đào bằng hạt là chủ yếu dẫn đến thoái hóa giống , việc chăm sóc không hợp lý dẫn đến việc cây đào sinh trưởng phát triển kém, cằn cỗi quả nhỏ, sâu bệnh hại nhiều, giá trị hàng hóa thấp. Cho đến nay những nghiên cứu về đào H’mông chưa nhiều, chưa có công trình nào tiến hành nghiên cứu tuyển chọn phục tráng giống đào H’mông và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào tiến hành nghiên cứu các biện pháp kĩ thuật thâm canh cải tạo đào bản địa tại 2 huyện Thuận Châu và Tuần Giáo. Do vậy, để khôi phục và phát triển vùng đào đặc sản H’mông rất cần thiết tiến hành tuyển chọn được cây đầu dòng, nghiên cứu phương pháp nhân giống, biện pháp kĩ thuật thâm canh cải tạo, biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trên cây đào H’mông ở 2 huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La và huyện  Tuần Giáo – tỉnh Điện Biên.

Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phát triển giống đào địa phương tại khu vực Pha Đin”

2. Mục đích

2.1. Mục đích lâu dài: Nhằm khôi phục và phát triển vùng đào đặc sản sản tại khu vực Pha Đin theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc trong vùng.

2.2. Mục đích cụ thể:

- Tuyển chọn được những cây đào ưu tú có khả năng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt làm cây đầu dòng phục vụ cho công tác nhân giống vô tính.

- Xác định được một số biện pháp kĩ thuật thâm canh cải tạo vườn đào:

KẾT QUẢ

 I.KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT Ở TUẦN GIÁO

1. Tổng số nông hộ và địa điểm đã điều tra

Trong thời gian từ tháng 9/2012 chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát tại 6 bản người H’Mông trồng đào mỗi bản điều tra 15 hộ trồng đào ngẫu nhiên

2. Hiện trạng vườn cây ăn quả của nông hộ

Tên giống trồng

Diện tích (số cây)

Loại đất trồng

Độ màu mỡ

Năm trồng

Năm cho thu hoạch

Năng suất hàng năm (Kg/cây)

Giá bán (đồng/kg)

Tình trạng sâu bệnh

Đào bản địa

5 -10

Đất thịt pha cát

Cao

Lâu đời

Lâu đời

5 - 200

10.000 – 20.000

80% bị dòi đục quả

Táo mèo

5 - 10

 

 

Lâu đời

 

10 – 30

5.000 – 30.000

Sâu ăn lá

Mận

1 - 5

 

 

Lâu đời

 

5 - 20

3.000 – 10.000

Sâu đục thân, quả

Chanh

2 - 5

 

 

Lâu đời

 

1 – 2,5

5.000 – 10.000

Không nhiễm sâu bệnh

Đào pháp

2-5

 

 

2000 đến nay

 

10-100

 

50% bị dòi đục quả

Tại các nông hộ được điều tra cho thấy, trên các vườn cây ăn quả của người dân chủ yếu tập trung vào các loại cây ăn quả chính như: đào, mận,táo mèo, chanh…

ây ăn quả chính cho thu nhập đó là táo mèo và đào ngoài ra các cây ăn quả khác trong vườn được sử dụng chủ yếu cung cấp sản phẩm quả ăn tươi cho gia đình như chanh được dùng trong các bữa cơm hàng ngày, dùng để pha nước uống…

Thu nhập chủ yếu của người dân dựa vào trồng trọt và chăn nuôi với mức trung bình từ 15 – 50 triệu đồng/năm

3. Tình hình sản xuất đào bản địa

3.1. Tình hình chung

Qua điều tra cho thấy 100% nông hộ trên địa điểm điều tra đều trồng giống đào địa phương, với số gốc trung bình từ 5 – 10 cây/vườn ước chừng khoảng 500 m2. Sản lượng cho thu hoạch hàng năm từ 5 tạ  – 20 tạ, với giá bán từ 10.000 đồng/kg – 20.000 đồng/kg, cho thu nhập từ 1000.000 đồng/năm – 10.000.000 đồng/năm. Nguồn thu nhập từ đào đứng thứ 2 sau táo mèo. Mục đích trồng đào tại các nông hộ là lấy quả  và lấy hoa để bán cung cấp thêm thu nhập cho gia đình.

3.2. Điều tra về quá trình trồng đào

Các hạng mục điều tra

Thống kê

Hình thức nhân giống

100% nhân giống từ hạt

Địa điểm lấy giống

100% lấy giống trên cây trong vườn nhà

Thời gian trồng

Từ lâu (trước năm 2000 và sau năm 2000)

Diện tích trồng ban đầu

1 – 2 cây/hộ

Diện tích mở rộng

10 – 15 cây/hộ

Cây trồng dưới tán đào

Gừng, bí ngô, ý dĩ, đậu tương, mướp, su su…

Cây leo lên thân cây đào

Bí ngô, mướp, su su

Sau khi thống kê từ các nguồn điều tra chúng tôi thấy các nông hộ trồng đào ban đầu chỉ trồng làm cảnh, nhà nào cũng có 1 – 2 cây đào trước sân nhà. Sau đó vì cây đào mang lại giá trị kinh tế cao nên các nông hộ muốn tiếp tục mở rộng diện tích trồng, ban đầu trồng từ 1 – 2 cây sau trồng tăng lên đến 10 – 15 cây/hộ. Nông hộ hầu hết chỉ sử dụng hình thức nhân giống từ hạt, lấy hạt của quả  trên cây vụ trước phơi khô đem cất đi vụ sau đem ra trồng. Để tận dụng khoảng đất trống dưới tán cây đào các nông hộ đều trồng xen dưới tán đào những cây trồng gần gũi, thân quen phục vụ cho bữa ăn gia đình của họ như các loại rau cải, mướp, bí ngô, su su. Một số loại cây gia vị như hành, tỏi, gừng. Ngoài ra còn trồng xen lúa nương, ý dĩ cũng tăng thêm thu nhập đáng kể cho gia đình.

3.3. Điều tra về tình hình sâu bệnh hại trên cây đào

Loại sâu bệnh hại

Bộ phận gây hại

Thời gian gây hại

Nguồn gốc

Mức độ gây hại

Các biện pháp phòng trừ

 

Loại

Tên

 

 

 

 

Loại thuốc

Liều lượng

Sâu hại

 

Ruồi đục quả

Quả

Tháng 3 – tháng 8

Con ruồi trưởng thành trích và đẻ trứng, kí sinh khi quả

còn non

80% số quả nhiễm bị thối nhũn

Không có biện pháp phòng trừ

 

Bệnh hại

Bệnh chảy gôm

Thân cây

 

 

 

Không có biện pháp phòng trừ

 

Các dịch khác

 

 

 

 

 

 

 

Hiện nay trên cây đào bản địa  tại Tỏa Tình – Tuần Giáo nói riêng cũng như giống đào bản địa của khu vực Tây Bắc nói chung đang bị một loài ruồi đục quả gây hại làm giảm năng suất đào đáng kể. Theo nghiên cứu loài ruồi đục quả này là đối tượng gây hại nguy hiểm hàng đầu ở tất cả các vùng trồng cây ăn quả ở nước ta. Ruồi trưởng thành chích vào trái để đẻ trứng, trứng nở thành sâu non, sâu non của ruồi đục trong trái, ăn thịt trái, gây thối trái dẫn đến giảm năng suất, chất lượng trái ngay trên vườn và kéo dài trong quá trình lưu thông sản phẩm, hậu quả là không đáp ứng được nhu cầu về tiêu dùng và xuất khẩu. Đây là đối tượng rất khó phòng chống do sâu non sống trong trái, thời gian gây hại vào thời kì trái chín. Biện pháp sử dụng thuốc hóa học dễ để lại dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Qua điều tra trên khu vực trồng đào bản địa chúng tôi thấy năng suất của đào giảm 80% khi bị loài ruồi đục quả phá hại. Xuất phát từ thực tế đó trong hoạt động nghiên cứu về đào địa phương chúng tôi đã thiết kế hoạt động nghiên cứu quản lý sâu bệnh hại trên cây đào. Trong nghiên cứu chúng tôi thực hiện các biện pháp sinh học để phòng trừ ruồi đục quả để đảm bảo được chất lượng của quả và an toàn cho người tiêu dùng.

3.4. Điều tra về tình hình sử dụng phân bón

Đối với người H’Mông cũng như người Thái Tây Bắc thì việc sử dụng phân bón cho cây trồng là rất ít, hầu như không sử dụng phân bón. Họ chỉ sử dụng phân bón cho lúa và hoa màu là chủ yếu. Qua quá trình thực tế điều tra chúng tôi phỏng vấn người dân họ cho biết: “ Chúng tôi không có phân bón cho đào, đào cứ trồng vậy và để cho nó sống tự nhiên thôi, nó vẫn ra quả và ra hoa rất đẹp”. Cùng với những quan sát thực tế chúng tôi thấy đất trồng trên xã Tỏa Tình rất màu mỡ và giàu dinh dưỡng, thêm nữa là khí hậu rất phù hợp cho cây đào phát triển. Cũng bởi thế nên cây đào khi không được bón phân nó vẫn phát triển tốt. Nhưng tuy nhiên thì nguồn dinh dưỡng trong đất sẽ dần bị cạn kiệt nếu chúng ta lạm dụng nó, và không có biện pháp bồi bổ dinh dưỡng hàng năm. Do đó mà khi nghiên cứu các biện pháp kĩ thuật để phát triển cây đào bản địa chúng tôi đã bố trí một thí nghiệm về bón phân cho đào. Mong muốn của chúng tôi là giúp nâng cao năng suất sản lượng quả đào.

3.5. Các biện pháp kĩ thuật áp dụng trong quá trình trồng đào

Khi phỏng vấn nông hộ về các biện pháp kĩ thuật áp dụng trong canh tác cây đào thì 100% các nông hộ không có biện pháp kĩ thuật tác động cho cây đào. Cây đào phát triển tự nhiên do đó mà sâu bệnh hại phá hoại, năng suất quả giảm sút, cây phát triển cao khó thu hái. Chính vì vậy sau khi điều tra chúng tôi đã tiến hành hoạt động nghiên cứu đốn tỉa, phòng trừ sâu bệnh hại trên cây đào với mong muốn nâng cao được chất lượng quả và năng suất của quả

3.6. Quá trình thu hoạch, tiêu thụ và đánh giá nguồn thu nhập từ đào của nông hộ

3.6.1. Phương thức thu hái và tiêu thụ

- Qua phỏng vấn nông hộ 100% nông hộ cho biết thời điểm bán đào là khi quả to, già có màu xanh và đỏ má 1/3 quả. Bởi khi quả chín sẽ bị nhiễm dòi đục quả, quả bị nhũn không bán được. Có 60% nông hộ trồng đào bản địa để thu hoạch quả, 40% số còn lại là bán hoa vào dịp tết.

- Phương thức thu hái quả: 100% nông hộ có phương thức thu hái thủ công bằng tay và dùng que để đập. Do đó mà có tới 30% số quả thu hái bị dập nát. Sau thu hái nông hộ không có biện pháp bảo quản đào họ chỉ để trong bao và trong nhà dâm mát, thu hoạch được bao nhiêu đem bán hết bấy nhiêu.

- Về thị trường tiêu thụ: sau thu hái nông hộ dùng xe máy chở ra các chợ xã, chợ huyện, các chợ ven đường quốc lộ để bán. Một số nông hộ đổ buôn cho thương lái đến tận vườn thu mua nhưng giá thành thu mua thấp hơn so với người dân đem ra chợ bán. Nông hộ thường tham khảo giá bán đào từ các chợ và họ trao đổi thông tin với nhau để biết giá bán đào hàng ngày.

- Về chế biến sản phẩm từ đào: Hầu hết các nông hộ không có hình thức chế biến sản phẩm nào khác từ đào. 100% là bán quả tươi.

3.6.2. Đánh giá nguồn thu từ đào

Cây đào bản địa nếu được chăm sóc tốt và có biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại sẽ đem lại hiệu quả kinh tế rất cao cho người dân bản địa. Khu vực Tỏa Tình – Tuần Giáo có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây đào sinh trưởng phát triển, gần đường quốc lộ 6 lên việc lưu thông sản phẩm sang các vùng lân cận rất thuận lợi. Qua sơ bộ đánh giá nguồn thu từ đào chúng tôi thấy hàng năm cây đào bản địa có thể cho thu nhập lên đến hàng trăm triệu đồng. Bởi đào bản địa có chất lượng quả rất ngon được người tiêu dùng ưa chuộng, hoa của chúng rất đẹp mỗi khi vào dịp tết mỗi cành đào có giá từ 400.000 đồng cho đến 2000.000 đồng. Sau khi trừ những chi phí về công lao động, thuốc bảo vệ thực vật…. Thì cây đào vẫn cho lãi suất cao. Chính vì vậy nguồn thu từ đào là rất có triển vọng

3.7. Thuận lợi, khó khăn & đề xuất, kiến nghị của của người dân

* Thuận lợi:

- Cây đào dễ trồng, phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, cây phát triển tốt và cho thu nhập cao

- Có thể trồng xen với các cây trống khác hoặc tận dụng được hiệu quả sử dụng đất

- Chất lượng quả thơm, ngon và dòn được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng

 

* Khó khăn:

- Chưa có chiến lược, chính sách phát triển cây đào.

- Thị trường tiêu thụ và giá bán chưa ổn định, chưa có thị trường thu mua thường xuyên

- Ruồi đục quả phá hoại mạnh, làm thiệt hại nặng về năng suất

- Khó khăn khi thu hái quả vì cây đào phát triển khá cao

- Chưa áp dụng được các biện pháp kỹ thuật để nâng cao thêm năng suất.

 

* Kiến nghị của người dân:

- Có chiến lược, chính sách phát triển cây đào bản địa

- Có thị trường thu mua ổn định để người dân yên tâm sản xuất, mở rộng diện tích;

- Hỗ trợ người dân phân bón, trang bị kỹ thuật để sản xuất.

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1. Kết luận

Thông qua quá trình điều tra, phân tích, tổng hợp số liệu chung cho thấy:

1.1. Cây đào bản địa được trồng lâu đời và phổ biến ở các nông hộ người dân tộc H’Mông vùng núi cao. Người dân thường trồng xen đào với lúa nương, ngô, ý dĩ… làm thực phẩm thay rau xanh hàng ngày hoặc bán kiếm thêm thu nhập.

1.2. Do người dân canh tác theo phương pháp truyền thống, thường được phát triển tự nhiên, ít được chăm sóc, bón phân hay cắt tỉa, do đó chưa khai thác hết năng suất và tiềm năng vốn có của giống.

1.3. Ở địa điểm được khảo  diện tích trồng còn manh múm, nhỏ lẻ chưa có quy hoạch khu vực trồng do đó rất khó phòng trừ sâu bệnh hại và không thuận tiện trong quá trình thu mua sản phẩm

4.2. Đề nghị

2.1. Có chiến lược, chính sách phát triển cây đào bản địa tại các địa phương thành cây trồng cho thu nhập cao cho người dân;

2.2. Phát triển thị trường thu mua, chế biến các sản phẩm từ đào, khuyến khích người dân mở rộng diện tích, phát triển sản xuất;

2.3. Tiến hành gây trồng thử nghiệm tại các điều kiện sinh thái khác nhau với các phương pháp khác nhau để đánh giá hiệu quả, năng suất cây trồng và lựa chọn phương thức canh tác phù hợp để phát triển cây đào;

2.4. Tập huấn cho người dân kỹ thuật trồng, nhân giống, phòng trừ sâu bệnh hại, nâng cao năng suất, khai thác hết tiềm năng vốn có của cây

2.5. Tăng cường sự tham gia và phát huy vốn kiến thức bản địa của người dân trong khâu trồng, chăm sóc, chế biến, bảo quản sản phẩm đào bản địa.

Các thí nghiệm về kĩ thuật đã được bố trí bao gồm:

1. Thí nghiệm phòng trừ sâu bệnh tổng hợp bao gồm các công thức sau:

CT1: Đối chứng, như nông dân sản xuất (không tác động)

CT2: Vệ sinh vườn và quét vôi gốc

CT3: Dùng chất dẫn dụ diệt ruồi đục quả VIZUBON - D

CT4: Bao quả cho đào.

2. Xác định được 20 cây đào tuyển chọn làm cây đào ưu tú

3. Thu thập, ươm cây con phục vụ cho 2 thí nghiệm ghép vào năm 2013

Một số hình ảnh:

 Bài viết của tác giả: Vũ Phong Lâm – Trưởng nhóm nghiên cứu cây đào

Ban thông tin website Khoa Nông - Lâm