KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG MỘT SỐ LOẠI NẤM ĂN CÓ GIÁ TRỊ CỦA NHÓM NẤM – NĂM 2012 (DỰ ÁN JICA-TBU)

Tây Bắc có diện tích trồng ngô rất lớn: 214.000 ha, do vậy bên cạnh sản phẩm thu được là hạt ngô, lượng phế thải từ cây ngô cũng khá nhiều. Người dân địa phương thường đốt phế thải này trên nương rẫy, hoặc sử dụng lõi ngô làm củi đun, để tự hoai mục làm phân bón. Chúng tôi đề xuất “Nghiên cứu nuôi trồng một số giống nấm ăn có giá trị“ này nhằm thử nghiệm nuôi trồng 4 loại nấm ăn: Nấm hương (Lentinula edodes), nấm rơm (Volvariella volvacea), nấm mỡ (Agaricus bisporus) và nấm kim trâm (Flammulina)

I. MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

Tây Bắc có diện tích trồng ngô rất lớn: 214.000 ha, do vậy bên cạnh sản phẩm thu được là hạt ngô, lượng phế thải từ cây ngô cũng khá nhiều. Người dân địa phương thường đốt phế thải này trên nương rẫy, hoặc sử dụng lõi ngô làm củi đun, để tự hoai mục làm phân bón.

Chúng tôi đề xuất “Nghiên cứu nuôi trồng một số giống nấm ăn có giá trị“ này nhằm thử nghiệm nuôi trồng 4 loại nấm ăn: Nấm hương (Lentinula edodes), nấm rơm (Volvariella volvacea), nấm mỡ (Agaricus bisporus) và nấm kim trâm (Flammulina)

1.2. Mục đích nghiên cứu

Tận dụng phế thải cây ngô để tạo ra sản phẩm nấm ăn có giá trị thực phẩm và hàng hóa; Hạn chế việc đốt phế thải ngô gây ô nhiễm không khí, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:  Nấm rơm, nấm mỡ, nấm kim trâm, nấm hương, nấm mối.

- Vật liệu nguyên cứu:  Rơm rạ, lõi ngô, bông phế thải, gỗ cây keo, mùn cưa

2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 7 – tháng 12/2012

- Địa điểm: Phòng thực nghiệm Khoa Nông – Lâm

2.3. Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát tình hình nuôi trồng, thu hái và tiêu thụ một số loài nấm ăn tại Sơn La, Tuần Giáo – Điện Biên và ở các cơ quan chuyên môn tại Hà Nội (nấm Hương, nấm Mỡ, nấm Kim trâm, nấm Rơm)

- Nhân giống 4 loại nấm ăn trên môi trường dinh dưỡng nhân tạo tại phòng thực nghiệm Khoa Nông – Lâm (nấm Hương, nấm Mỡ, nấm Kim trâm, nấm Rơm)

- Tiến hành thí nghiệm nuôi trồng 2 loại nấm ăn trên vật liệu chính là lõi ngô, so sánh với nuôi trồng trên các vật liệu khác: rơm rạ, mùn cưa (nấm Rơm, nấm Mỡ)

2.4. Phương pháp nghiên cứu

- Nội dung nhân giống và trồng thử nghiệm: Theo đúng phương pháp thí nghiệm.

- Nội dung khảo sát: thu thập thông tin qua phỏng vấn trực tiếp, thu thập tài liệu, lấy mẫu.

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1. Khảo sát tình hình nuôi trồng, thu hái và tiêu thụ một số loài nấm ăn tại Sơn La và Hà Nội

1.1. Tình hình nuôi trồng, thu hái và tiêu thụ một số loài nấm ăn tại Sơn La

- Các giống nấm đang thực hiện nuôi trồng ở Sơn La chủ yếu được cung cấp từ 2 nguồn:  Xí nghiệp nấm Sơn La thuộc công ty xuất nhập khẩu tỉnh Sơn La cung cấp; Trung tâm công nghệ sinh học thực vật Hà Nội (Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam).

 - Các giống nấm được trồng phổ biến ở Sơn La: Nấm Rơm (Volvariall volvacea), Nấm Mỡ (Agaricus bisporus), Nấm Sò (Pleurotus spp), Nấm Hương (Letunus edodes), Nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum), Nấm Mèo hay Mộc Nhĩ (Auricularria spp).

- Một số đơn vị nuôi trồng nấm: Xí nghiệp nấm Sơn La; Công ty TNHH sản xuất Việt GAP do 3 cựu sinh viên Khoa Nông – Lâm, trường Đại học Tây Bắc thành lập năm 2010 tại xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và một số hộ dân.

- Các hình thức tiêu thụ và chế biến nấm ở Sơn La: bán tươi (chủ yếu), sấy khô.

- Các địa điểm đang tiêu thụ nấm tốt nhất và triển vọng phát triển nấm: Thành phố Sơn La; Thị trấn Mường La; Chợ thị trấn Yên Châu; Các chợ nhỏ trong Xã; Chợ thị trấn Thuận Châu;

1.2. Tình hình nuôi trồng, nghiên cứu và tiêu thụ một số loài nấm ăn tại Hà Nội

- Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam: Đối với nghiên cứu về nấm thì đến nay đã nghiên cứu thành công 6 loài nấm ăn (Nấm Sò, nấm Mỡ, nấm Đùi gà, nấm Kim trâm, nấm Mộc nhĩ...) và 1 loại nấm dược liệu (nấm Linh chi). Nguyên liệu sử dụng để trồng nấm chủ yếu là mùn cưa.

- Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật (Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam) nghiên cứu về nấm từ năm 1996, đến nay đã nghiên cứu thành công 16 loại nấm ăn và nấm dược liệu. Hiện nay Trung tâm tập chung nghiên cứu ứng dụng, mở rộng quy mô sản xuất ở các địa phương (đã có 40/63 tỉnh thành trồng nấm), mong muốn đến năm 2020 phủ kín 63 tỉnh thành có trồng nấm.

- Trung tâm Nấm Văn Giang, Hưng yên (Thuộc Trung tâm CNSH thực vật – Viện Di truyền NN Việt Nam) với diện tích khoảng 10 ha, 50 cán bộ. Trung tâm có nhiệm vụ đánh giá khảo nghiệm các loại giống nấm trước khi cung cấp cho địa phương; sản xuất giống nấm thương phẩm; đào tạo tập huấn cho người dân và các đơn vị khác; đầu mối thu mua sản phẩm.

- Thị trường tiêu thụ nấm ăn tại Hà Nội là rất lớn, hiện nay sản xuất trong nước chưa đủ cung cấp cho thị trường mà phải nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau: Trung quốc, Hàn Quốc, Đài Loan. Mỗi ngày nhập khoảng 5 container nấm về chợ đầu mối Long Biên..

2. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của nâm Mối trong điều kiện tự nhiên; Tình hình thu hái và tiêu thụ nấm mối tại một số địa phương của tỉnh Sơn La và Tuần Giáo (Điện Biên)

2.1. Tình hình thu hái và tiêu thụ nấm mối

Hàng năm nấm mối xuất hiện vào đầu mùa mưa, khoảng từ tháng 4 đến thán 7 hàng năm. Thường nấm mối xuất hiện ở nơi đất cao vì mối không thể làm ổ ở nơi đất quá ẩm ướt.

Nấm mối mọc 2 đợt: đợt 1 khoảng đầu tháng 5, đợt 2 vào đầu tháng 7, đợt 2 nấm sẽ ra ít hơn đợt 1. Nấm mối thường mọc tại những vị trí có tổ mối (kiểm tra bằng cách: đào xung quanh vị trí có nấm mối mọc sẽ phát hiện thấy con mối, hoặc khi trời mưa sẽ thấy mối cánh bay ra từ khu vực có nấm mối mọc).

Cách thu hái: Khu vực nấm mối mọc rộng khoảng 2 – 3 m2. Khi phát hiện thấy nấm mối, nếu như đất mềm và ẩm thì có thể dùng tay nhổ cả cây, nếu như đất cứng thì phải dùng que tre hoặc thuổng đào sâu khoảng 20 – 30 cm, sau đó nhổ cây nấm lên.

Thời điểm thu hái: Nấm mối được thu hái vào sáng sớm (khoảng 5 giờ sáng.

Về năng suất: Khối lượng nấm mối thu hái được tùy thuộc vào từng tổ nấm mối và tùy theo năm. Có những tổ nấm mối thu hái 2 đợt được khoảng 10 kg, có tổ chỉ thu hái được khoảng 200 – 500 g, một số tổ chỉ thu hái được 2 – 3 cây nấm.

Cách sử dụng và chế biến nấm mối: Sau khi thu hái được nấm mối, mang về nhà rửa sạch bỏ phần đất bám bên ngoài sau đó có thể chế biến thành nhiều món ăn tùy thuộc vào sở thích và điều kiện của từng gia đình.

Tiêu thụ nấm mối: Trước đây phần lớn nấm mối sau khi thu hái về sử dụng trong gia đình, một số hộ dân thu hái được nhiều thì mới đem ra chợ bán. Giá nấm mối dao động từ 80.000 – 150.000 đồng/kg, tùy vào thời điểm và tùy vào lượng nấm nhiều hay ít. Nấm mối được bán tại các chợ trong Xã hoặc chợ Thị trấn, Thành phố. Một số nhà hàng đặt trước với người dân để thu mua nấm mối chế biến món ăn.

2.2. Các đặc điểm sinh học của nấm mối trong tự nhiên

Nấm mối mọc sâu dưới đất, phần nhô lên khỏi mặt đất dài khoảng 5 – 10m, phần thân và gốc nấm dưới đất dài khoảng 15 – 20 cm. Cây nấm gồm 2 phần: thân nấm và mũ nấm. Thân nấm có dạng hình trụ tròn, dài khoảng 20 – 30 cm (bao gồm cả phần dưới đất và phần trên mặt đất), màu trắng hơi nâu hoặc xám. Mũ nấm có màu sắc tương tự thân nấm, khi nở xòe có hình dạng chiếc ô. Mặt trên mũ nấm nhẵn, mặt dưới có nhiều phiến nấm chứa các bào tử nấm.

Cây nấm mọc nhô lên khỏi mặt đất vào sáng sớm, sau đó đến trưa thì nở xòe và tàn lụi dần. Vì vậy để thu hái được nấm mối tươi ngon thì cần hái vào sáng sớm (khoảng 5 giờ sáng).

2.3. Thu thập một số chỉ tiêu về môi trường tại khu vực nấm mối mọc

Tại các vị trí nấm mối mọc có pH dao động từ 5.7 – 6.2, trung bình là 5.92; độ ẩm đất dao động từ 29 – 39.9 %, trung bình là 33.63 %; nhiệt độ đất dao động từ 25.1 – 25.4 oC, trung bình là 25.23 oC; độ cao dao động từ 605 – 750.8 m (so với mực nước biển), trung bình là 656.93 m.

3. Kết quả nhân giống nấm

- Đã nhân được giống cấp 3 của nấm rơm

- Đã nhân giống cấp 2 và giữ giống nấm hương, nấm kim trâm

4. Kết quả trồng thử nghiệm nấm rơm và nấm mỡ

- Đã tiến hành trồng nấm rơm, tuy do nguyên liệu không đảm bảo, bị chuột phá hoại nên thí nghiệm chưa đạt kết quả tốt

5. Nội dung chưa hoàn thành

+ Nội dung nhân giống 3 loại nấm: nấm hương, nấm mỡ, nấm kim trâm

+ Nhân giống nấm mối

+ Trồng nấm hương, nấm mỡ, nấm kim trâm, nấm mối

IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1. Kết luận

Các hoạt động đã được tiến hành đúng tiến độ. Một số nội dung chưa triển khai được do các nguyên nhân khách quan.

- Đã khảo sát được:  Tình hình nuôi trồng, thu hái và tiêu thụ một số loài nấm ăn tại Sơn La; Tình hình nuôi trồng, nghiên cứu và tiêu thụ một số loài nấm ăn tại Hà Nội; Tình hình thu hái và tiêu thụ nấm mối;  Các đặc điểm sinh học của nấm mối trong tự nhiên

- Thu thập một số chỉ tiêu về môi trường tại khu vực nấm mối mọc

- Đã nhân được giống cấp 3 của nấm rơm

- Đã nhân giống cấp 2 và giữ giống nấm hương, nấm kim trâm

- Đã tiến hành trồng nấm rơm, tuy do nguyên liệu không đảm bảo, bị chuột phá hoại nên thí nghiệm chưa đạt kết quả tốt

2. Đề nghị

 - BQL sớm phê duyệt đề xuất vật tư, thiết bị phục vụ nghiên cứu của Nhóm Nấm

- BQL sớm thống nhất kinh phí cho năm 2013 để các hoạt động được tiến hành đúng tiến độ và đảm bảo hiệu quả.

Một số hình ảnh minh họa:

Khảo sát tình hình nuôi trồng nấm tại Thuận Châu - Sơn La

GS. Ohga (Chuyên gia về Nấm tại Nhật Bản)

hướng dẫn đo một số chỉ tiêu tại khu vực có nấm mối mọc tự nhiên

GS. Ohga hướng dẫn phân lập giống nấm

Khảo sát tình hình nuôi trồng nấm tại Trung tâm CNSH thực vật (Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam)

Khảo sát tình hình thu hái nấm mối trong tự nhiên tại xã Phỏng Lái, Thuận Châu, Sơn La

Quả thể nấm Rơm chuẩn bị cho thu hoạch

Bài viết của tác giả: Đặng Văn Công - Trưởng nhóm nghiên cứu Nấm

Ban thông tin website khoa Nông - Lâm