TÌM HIỂU CÁCH THỨC KHAI THÁC, SỬ DỤNG, NHÂN GIỐNG VÀ GÂY TRỒNG CÂY RAU SẮNG.

Cây rau sắng là cây rau rừng giàu chất dinh dưỡng, có giá trị kinh tế cao. Loài cây này cần được nghiên cứu gây trồng và phát triển để mang lại thu nhập cao cho người dân.

Tóm tắt

Cây rau sắng là cây rau rừng giàu chất dinh dưỡng, có giá trị kinh tế cao. Loài cây này cần được nghiên cứu gây trồng và phát triển để mang lại thu nhập cao cho người dân.

Dự án JiCa – Trường ĐH Tây Bắc  thực hiện chuyên đề nghiên cứu: “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng Rau sắng (Melientha suavis) tại khu vực Tây Bắc” với mục tiêu phát triển  cây rau sắng thân gỗ cho vùng Tây Bắc. Thực hiện nội dung tìm hiểu cách thức khai thác, sử dụng, nhân giống, gây trồng cây rau sắng tại một số khu vực tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, Sơn La nhằm tìm hiểu kinh nghiệm trong quá tình khai thác, sử dụng, nhân giống và gây trồng của người dân địa phương để phục vụ cho quá trình nghiên cứu của chuyên đề.

Từ khóa: Kinh nghiệm, nhân giống, gây trồng, rau sắng

I. Đặt vấn đề.

Cây rau sắng hay còn gọi là cây mì chính, cây rau gót rừng, có tên khoa học là Melientha Suavis thuộc họ Rau sắng Opiliaceae.

Cây rau sắng là loài có tên trong sách đỏ Việt Nam. Rau sắng là  loài thực vật không chỉ nâng cao tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng, mà còn là một loại cây cung cấp nguồn rau rất tốt cho con người. Ngọn non, lá, hoa và quả non được dùng để nấu canh, quả chín dùng để ăn, ngày nay rau sắng là 1 loại rau rừng sạch, bổ dưỡng và  có giá trị kinh tế cao.

Ngoài giá trị về mặt kinh tế, đây là cây đặc sản, dược liệu (chữa bệnh rất tốt), cây rau sắng là cây gỗ sống vài trăm năm có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, làm đẹp cảnh quan môi truờng. Rau sắng là loại rau quý hiếm, chúng mọc rải rác ở dưới tán rừng vùng núi đá vôi, có phân bố tự nhiên tại khu vực nghiên cứu. Nhu cầu về loại thực phẩm này rất lớn. Tuy nhiên hiện nay người dân địa phương mới dừng lại ở việc thu hái ngoài tự nhiên, chưa có biện pháp bảo tồn, gây trồng để sử dụng một cách lâu dài. Chính vì vậy, nguồn cung cấp từ tự nhiên ngày càng giảm, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng.

Rau sắng có phân bố rất nhiều tại Phú Thọ, Hòa Bình , Sơn La. Đặc biệt rau sắng phân bố rất nhiều ở Vườn Quốc Gia Xuân Sơn – Phú Thọ và đã được Vườn nghiên cứu nhân giống gây trồng từ năm 2006.

Tại Sơn La nhu cầu về sản phẩm rau sắng là rất lớn nhưng khả năng đáp ứng thì rất thấp, do nguồn rau sắng tại Sơn La được cung cấp bởi các hộ dân khai thác từ rừng, số lượng cây rau sắng ngoài tự nhiên ngày càng ít dần.

Từ thực tế đó, Dự án Jica cho thực hiện chuyên đề nghiên cứu: “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng Rau sắng (Melientha suavis) tại khu vực Tây Bắc” với mục tiêu phát triển  cây rau sắng thân gỗ cho vùng Tây Bắc, đồng thời nâng cao thu nhập cho các hộ dân trồng cây Rau sắng. Để có cơ sở thực tiễn áp dụng thực hiện nghiên cứu chuyên đề được hiệu quả thì vấn đề điều tra, tìm hiểu cách thức khai thác, sử dụng , nhân giống và gây trồng cây rau Sắng tại 1 số địa phương khác là rất cần thiết.

II. Mục tiêu, phạm vi,  nội dung và phương pháp thực hiện.

2.1 Mục tiêu

Tìm hiểu được thực trạng, kinh nghiệm trong qua trình khai thác, sử dụng, nhân giống và gây trồng cây Rau sắng.

2.2 Phạm vi.

Chuyên đề thực hiện điều tra, đánh gái tại 3 tỉnh, bao gồm:

- Tỉnh Phú Thọ (ở Vườn Quốc Gia Xuân Sơn).

- Tỉnh Hòa Bình (huyện Mai Châu).

- Tỉnh Sơn La.

2.3 Nội dung thực hiện.

Nội dung 1: Tìm hiểu cách thức khai thác, sử dụng rau sắng.

Nội dung 2: Tìm hiểu cách thức nhân giống cây rau sắng.

Nội dung 3: Tìm hiểu cách thức gây trồng cây rau sắng.

2.4 Phương pháp thực hiện.

- Phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA), dùng phiếu phỏng vấn để thu thập thông tin.

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), sử dụng các câu hỏi phỏng vấn bán định hướng.

- Phương pháp xử lý và phân tích kết quả.

III. Kết quả và thảo luận kết quả.

3.1. Tình hình khai thác và sử dụng rau sắng

Qua kết quả điều tra cho thấy, sản phẩm được bà con địa phương thu hái chủ yếu là lá non, quả non và quả chín

Lá non được người dân địa phương khai thác nhiều lần trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 để phục vụ cho nhu cầu rau ăn và một lượng nhỏ được bán với giá bán giao động từ 50.000 – 70.000/1kg tùy vào thời điểm

Kinh nghiệm về thu hái, bảo quản và chế biến của bà con địa phương:

- Thu hái: thu hái vào mùa mưa và thu hái những ngọn và lá non

- Phương thức thu hái: chủ yếu lấy sào bẻ cành non ngoài ra còn trèo lên cây bẻ cành.

- Bảo quản: rau sau khi hái về rửa sạch nếu là cành có thể cắm vào các bình nước cho tươi hoặc cho vào tủ lạnh có thể bảo quản trong vòng 1 – 2 tuần.

- Chế biến:

+ Rau sắng dùng để ăn lẩu và nước làm phở. Sau khi tuốt lá rau, cuộng rau bó lại cho vào lẩu có tác dụng làm ngọt nước.

+ Rau sắng nấu canh dùng làm món khai vị chống say rượu.

+ Dùng máy xay sinh tố ép lá non, quả non, hoa lấy nước dùng

+ Nấu bột, nấu cháo cho trẻ suy dinh dưỡng, người ốm, người ăn trả bữa, phụ nữ sau khi sinh, vận động viên thể thao.

Ngoài các sản phẩm trên, người dân còn thu hái quả chín.

Quả chín người dân thường thu hoạch vào thời gian từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 9 để bán cho 1 số người gieo ươm hoặc cho một số người thu mua với giá dao động từ 150.000- 250.000/ 1kg hạt.

Về giá trị của cây Rau sắng đem lại hầu hết các ý kiến cho rằng có giá trị cao hơn so với các loại rau khác. Vì lợi nhuận kinh tế do việc khai thác rau và quả chín làm cho trong những năm gần đây số lượng cây Rau sắng trong tự nhiên đang bị suy giảm nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Tuy nhiên cách thức khai thác là chặt cây hoặc cành để lấy lá non cũng làm cho nguồn cung cấp rau trong tự nhiên bị suy giảm nhanh chóng.

Với việc quả sinh ra từ thân và cành, đối với những cây có đường kính lớn  phụ nữ  không trèo thu hái quả được vì thế đã chặt cây, cành to để thu hái làm số lượng những cây có đường kính lớn phân bố trong tự nhiên ngày càng ít, nhất là những cây có đường kính lớn > 20cm ngày càng hiếm gặp mà chủ yếu gặp các cây có đường kính từ 7-10cm. Kết quả phỏng vấn cho thấy, số lượng cây Rau sắng trong tự nhiên hiện nay chỉ bằng 20- 30% so với cách đây 10 năm.

3.2. Tình hình nhân giống

Kết quả điều tra cho thấy hiện nay các địa phương mới chỉ sử dụng phương pháp nhân giống bằng hạt. Do thực hiện nhân giống bằng hạt tỷ lệ thành công cao và nguồn hạt giống nhiều nên chưa thử nghiệm nhân giống bằng các phương pháp khác.

Kinh nghiêm nhân giống bằng hạt đang của các địa phương áp dụng như sau.

(i) Thu hái và xử lý hạt

Mùa vụ thu hái hạt: Vụ thu đông (khoảng tháng 7-8 âm lịch). Quả tiến hành thu làm giống phải chín vàng  (nếu quả không chín thì tỷ lệ nảy mầm kém và cây con yếu dễ chết).

Thu hái: do quả rau sắng được mọc ra từ thân nên việc thu hái khá dễ dàng (có thể dùng sào hoặc có thể trèo lên hái trực tiếp).

(ii) Xử lý hạt

Quả thu hái về ủ từ 1 -2 ngày cho chín đều sau đó tiến hành xử lý ngay (do hạt không có thời gian ngủ, nếu hạt mất nước thì mất khả năng nảy mầm)

- Quả chín thu về xát bỏ thịt quả (thịt quả có thể đem ủ và chế biến rượu)

- Rửa sạch hạt sau đó đem hong trong bóng dâm (nếu thời tiết nắng  phơi 1 ngày nếu trời dâm mát phơi 2- 3 ngày)

- Sau đó ủ hạt trong cát ẩm: thời gian ủ từ 15- 20 ngày là hạt nảy mầm (trong thời gian ủ cần giữ ẩm cát từ 85 – 90%)

- Khi hạt nứt (nảy mầm) có thể gieo vào bầu hoặc gieo trực tiếp lên luống

(iii) Gieo ươm

- Thời gian gieo ươm vào vụ thu

- Đất gieo ươm: Đất tầng B có trộn NPK

- Chọn hạt nứt nanh đem gieo vào bầu hoặc gieo trên luống theo rạch sâu khoảng 5 cm (hạt cách hạt 10cm hàng cách hàng 50 cm)

- Gieo hạt cần che bóng (che bóng từ 70- 80%)

- Trong quá trình chăm sóc: cần phòng trừ dế (dùng bả diêm)

- Tỷ lệ nảy mầm: 70-75%

- Đối với cây non trong bầu: khoảng 15- 20 ngày tiến hành đảo bầu 1 lần (Thân cây cao bao nhiêu thì rễ dài bấy nhiêu)

- Cây con cao 20-25cm, thời gian gieo ươm từ 6 -7 tháng có thể đem trồng

3.3 Gây trồng

(i) Đối với các hộ dân

- Qua phỏng vấn người dân cho thấy, cây Rau sắng người dân chưa trồng thành các mô hình, khi thấy rau sắng tái sinh tự nhiên thì để lại chăm sóc hoặc đánh cây con ở tự nhiên về trồng phân tán trong vườn nhà.

(ii) Đối với các cơ quan

Qua quá trình điều tra, tại VQG Xuân Sơn đã trồng thử nghiệm 1 số mô hình và đưa ra 1 số nhận xét về kỹ thuật gây trồng của Rau sắng như sau.

* Đất trồng

- Đất xám feralit hoặc đất nâu đỏ

- Đất để trồng cần mang tính chất đất rừng

* Làm đất:

- Tùy vào phương thức trồng mà có cách làm đất khác nhau

+ Nếu trồng theo rạch: cần tiến hành làm đất toàn bộ diện, cày bừa và dọn sạch cỏ

+ Nếu trồng theo hố: cần dọn sạch cỏ và tiến hành cuốc hố (30x30x30)

- Dùng vôi bột rắc vào vụ xuân hè và để ải đất

* Kỹ  thuật trồng:

- Thời vụ: xuân hè và hè thu

- Mật độ: Tùy thuộc vào mục đích có thể trồng thuần loài hoặc trồng dưới tàn rừng

- Phương thức trồng:

+ Trồng trực tiếp theo rãnh: Sau khi làm đất, tạo các rách sâu 5-7 cm, gieo trực tiếp các hạt đã qua xử lý mật độ tùy thuộc vào mục đích, sau đó phủ đất dày 7-10cm.

+ Trồng theo hố: kích thước hố (30x30x30).

+ Cây rau sắng cần có che bóng: có thể trồng dưới tán rừng hoặc có cây che bóng

 Vd: Trồng  cây cốt khí trên diện tích định trồng trước 1 -2 năm khi trồng rau Sắng.

* Sâu bệnh và cách phòng trừ

+ Dế

- Trong giai đoạn cây non Rau sắng hay bị dế  cắn ngang thân

- Phòng trừ: bằng bả dế que diêm

+ Sâu đục thân:    

Phòng trừ: Cần cắt bỏ các cành có vết đục đem đốt

+  Rệp phấn trắng:

Phòng trừ: Cắt bỏ các cành bị rệp đem đốt

+ Sâu ăn lá:

Phòng trừ:  Cắt bỏ cành bị sâu và bắt sâu

IV. Kết luận và kiến nghị.

4.1 Kết luận.

- Sản phẩm sử dụng của cây Rau sắng là lá và quả

- Đối với cây rau sắng mới nhân giống bằng phương pháp hạt chưa nhân giống bằng các biện pháp khác.

- Ở Vườn Quốc Gia Xuân Sơn  - Phú Thọ đã trồng thử nghiệm một số mô hình và đã đề xuất được một số kiến nghị trong quá trình trồng.

4.2. Kiến nghị.

- Cần nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp giâm hom đối với cây rau sắng.

- Tiến hành thử nghiệm các biện pháp gây trồng khác nhau để hoàn thiện kỹ thuật gây trồng cây Rau sắng.

 MỘT SỐ HÌNH ẢNH NGHIÊN CỨU

Bài viết của tác giả: Vũ Văn Thuận - GV Khoa Nông - Lâm

Ban thông tin website Khoa Nông - Lâm