HỘI THẢO BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN TBU-JICA LẦN 1

Chiều ngày 6/12/2013 tại Phòng Hội thảo 3 – Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Tây Bắc diễn ra hội thảo báo cáo kết quả 6 nghiên cứu trong Dự án TBU-JICA năm 2013. Tham dự Hội thảo phía Nhật Bản có Giáo sư Atsushi Yoshimura - Trường Đại học Kyushu, GS.Ryoji Yamaguchi - Trường Đại học Miyazaki, GS.Yshihiko Nishimura - Cố vấn Trưởng Dự án, Trường Đại học Ryukyu, Tiến sĩ Takahiro Fujiwara - Trường Đại học Kyushu, Ông Hideo Ito - Điều phối viên Dự án. Tham dự Hội thảo phía Việt Nam có các thành viên Ban Quản lý Dự án TBU-JICA, Đại diện Ban chủ nhiệm Khoa Nông – Lâm và toàn bộ giảng viên cán bộ Khoa Nông – Lâm.

Phát biểu tại Hội thảo, Giáo sư Nishimura cho biết kết quả các nghiên cứu là một nội dung rất quan trọng trong Dự án, tiến hành các nghiên cứu sẽ giúp cho các giảng viên nâng cao năng lực và hình thành định hướng nghiên cứu cho các giảng viên trong tương lai. 

Ths. Nguyễn Văn Khoa báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm lúa

Ths. Nguyễn Văn Khoa – Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm lúa địa phương, nhóm đã thu được những kết quả quan trọng như đánh giá sự đa dạng về kiểu gen của các loại lúa, đã mô tả được đặc điểm nông học và hình ảnh của 149 giống lúa. Nhóm đánh giá một số giống lúa nếp được người dân ưa chuộng để đưa ra những khuyến cáo, đã chọn được 7 giống lúa có thời gian sinh trưởng trên 4 tháng, cây cao, năng suất trung bình 2,4 tấn/ha. Kết luận: Qua đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất cũng như chất lượng gạo của các giống lúa địa phương tham gia thí nghiệm chúng tôi nhận thây giống lúa Nếp Tan Mường Chanh ưu điểm hơn cả về chất lượng, năng suất có thể phát triển rộng ra sản xuất. Đánh giá được thực trạng sản xuất  và thu thập được 149 mẫu giống lúa, phân nhóm các mẫu giống lúa dựa vào chỉ thị SSR. Thu thập số liệu về đặc điểm nông sinh học của các mẫu giống lúa. Đang tiến hành xử lí kết quả nghiên cứu và phân nhóm các mẫu giống lúa dựa vào đặc điểm hình thái. Đã đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất cũng như chất lượng gạo của một số giống lúa địa phương. Nhóm đề xuất một số nội dung nghiên cứu trong thời gian tới như: Phục tráng một số giống lúa chất lượng; phục tráng một số giống lúa chất lượng; phát triển nguồn gen kháng bệnh bạc lá, kháng rầy nâu từ tập đoàn mẫu giống bằng chỉ thị phân tử; tiếp tục đánh giá triển vọng về năng suất, chất lượng, khả năng chịu hạn của tập đoàn mẫu giống; tạo nguồn vật liệu khởi đầu phục vụ cho công tác giống.

GS. Yoshimura đề nghị nhóm làm rõ hơn về mục đích phân tích gen các giống lúa và đề xuất nhóm lập bản đồ thu thập các giống lúa tại các địa điểm.

Ths. Vũ Văn Thuận – báo cáo kết quả nghiên cứu rau sắng năm 2013. Nhóm đã tiến hành các nội dung nghiên cứu như: Tập huấn Kỹ thuật nhân giống từ hạt cây rau sắng và từ hom cành; khảo sát nhân giống và gây trồng của rau sắng tại Vườn Quốc gia Bến En và Vườn Quốc gia Cúc Phương; thử nghiệm nhân giống rau sắng từ hom cành; thử nghiệm xác định thời điểm cắt đến khả năng nảy chồi của hạt rau sắng. Kết luận: Các địa điểm đã tiến hành khảo sát mới chỉ áp dụng phương pháp nhân giống bằng hạt; rau sắng phân bố trên sinh cảnh núi đá vôi, thường xuất hiện ở các khe hoặc chân núi, nơi có độ ẩm tương đối cao; rau sắng là loài khả năng nhân giống bằng hom rất hạn chế; thời điểm cắt trụ mầm có ảnh hưởng đến khả năng nảy chồi của hạt rau sắng và thời điểm 2 tuần sau trụ mầm phát triển xanh là thời điểm có tỷ lệ nảy mầm cao nhất. Nhóm đề xuất nội dung năm 2014 như sau: Phân tích đất đánh giá điều kiện gây trồng, thử nghiệm nhân giống bằng nuôi cấy mô, thử nghiệm gây trồng rau sắng (dưới các độ tàn che khác nhau, ảnh hưởng của caxi).

 Ths. Nguyễn Thành Sơn trình bày phương pháp cắt mầm cây

Các thành viên thảo luận sôi nổi về phương pháp cắt mầm cây rau sắng sau khi nhân giống từ hạt. Nhiều giảng viên cho rằng việc cắt dưới 2 lá mầm là cắt dưới đỉnh sinh trưởng, thiếu cơ sở khoa học và đề nghị có thể áp dụng phương pháp tách hai lá mầm. Ths. Nguyễn Thành Sơn – thành viên nhóm rau sắng cho biết nếu hai lá mầm không rụng thì cây sẽ không mọc được, nhóm đã thử tách hai lá mầm nhưng không thành công.

Giáo sư Nishimura cho biết cắt mầm phát triển từ hạt là thiết cơ sở khoa học, khi cắt phần đỉnh mầm sẽ có chồi mọc ra nhưng làm thế nào giữ được chồi cũng là một vấn đề mà nhóm cần nghiên cứu vì mất hai lá mầm sẽ làm cho cây thiếu nguồn dinh dưỡng. Giáo su Yoshimura trong phần phương pháp và vật tư chúng ta phải nêu điều kiện nảy mầm như: Nhiệt độ, độ ẩm, đất… để từ đó có cơ sở trong việc đưa ra kết luận.

Ths. Phạm Quang Thắng – Báo cáo kết quả nghiên cứu dưa bản địa. Năm 2013 nhóm đã tiến hành 4 nội dung nghiên cứu: Khảo sát thực trạng sản xuất và khả năng tiêu thụ dưa chuột bản địa vùng Tây Bắc; thu thập các mẫu giống dưa chuột bản địa tại các tỉnh Tây Bắc; mô tả một số đặc điểm hình thái mẫu giống dưa chuột bản địa; nghiên cứu xác định biện pháp che phủ và lượng phân chuồng bón lót cho giống dưa chuột bản địa. Kết quả nghiên cứu năm 2013 đã giúp nhóm đưa ra 4 kết luận quan trọng: Giống dưa chuột bản địa được người dân canh tác bằng kinh nghiệm truyền thống, hạt giống được truyền lại từ đời này qua đời khác, biện pháp canh tác thô sơ và rất ít khi được chăm sóc; nhóm nghiên cứu đã thu thập được 44 mẫu giống dưa chuột bản địa tại 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Trong đó, Sơn La (30 mẫu), Điện Biên (11 mẫu), Lai Châu (3 mẫu); các mẫu giống dưa chuột bản địa có sự khác nhau rõ rệt về các đặc trưng hình thái của lá, hoa, quả. Điều này cho thấy có sự phân ly tính trạng kiểu hình rõ rệt ở giống dưa chuột bản địa vùng Tây Bắc; che phủ bằng nilon hoặc rơm rạ có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của dưa chuột bản địa. Từ những kết quả có được, nhóm đưa ra đề xuất 4 nội dung nghiên cứu cho năm 2014 là: đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen dưa chuột bản địa vùng Tây Bắc, phát hiện những tính trạng qúy, đặc trưng, khai thác trong công tác chọn tạo giống mới; nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu bệnh, các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp, hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác dưa chuột bản địa; tổ chức tập huấn, chuyển giao các kỹ thuật mới cho cán bộ khuyến nông và người dân trên địa bàn nghiên cứu; nghiên cứu phát triển thị trường cho giống dưa chuột bản địa. 

Ths. Phạm Quang Trung báo cáo kết quả nhóm củ mài

Ths. Phạm Quang Trung – báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm củ mài. Nhóm đã tiến hành thu thập giống cây củ mài, nhân giống thành công từ thân củ và thử nghiệm nhân giống từ hạt và từ thân tuy nhiên kết quả sinh trưởng chưa đạt. Ngoài ra, nhóm cũng tiến hành trồng thử nghiệm cây củ mài tại 3 địa điểm nghiên cứu theo các phương pháp khác nhau. Nhóm cũng đưa ra dự kiến nghiên cứu: Hoàn thiện quy trình nhân giống từ thân bằng phương pháp giâm hom và nuôi cây mô; hoàn thiện bố trí thí nghiệm tại hộ dân và mô hình; thu thập vườn thực vật các loài cây trong họ Củ Nâu; hoàn thiện quy trình trồng cây củ mài bằng các phương pháp mới: Trồng trên tấm nhựa, trồng theo luống; tiếp tục tiếp thị sản phẩm đầu ra cho cây củ mài.

Giáo sư Nishimura đưa ra ý kiến khi thu hoạch, không chỉ chú ý phần củ mà còn phải chú ý phần trên thân, khi thu hoạch toàn bộ các cây khô 80% thì tốt hơn khi cây vẫn còn tươi, nên để tình trạng các cây cùng khô thì dễ so sánh. Hoạt động thị trường rất quan trọng, củ mài được sử dụng vào những mục đích gì cần phải nghiên cứu.

Ths. Đinh Văn Thái – báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm Mắc khén. Năm 2013 nhóm đã tiến hành nhiều hoạt động như: Điều tra phân bố cây mắc khén, thí nghiệm nhân giống từ hom và từ hạt, nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô, xây dựng 2 mô hình trồng thử nghiệm. Kết quả về mặt đào tạo, đã có 3 sinh viên hoàn thành khoá luận tốt nghiệp và 2 nhóm sinh viên hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa. Nhóm đã hoàn thiện 1 bài báo đăng trên Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, dự kiến số tháng 8 năm 2013 với tên bài báo “Nghiên cứu đặc điểm lâm học cây Mắc khén (Zanthoxylum rhetsa DC) tại Sơn La”; hoàn thiện 1 bài báo đăng trên Tạp chí Hóa học, số 51 năm 2013; đang tiến hành viết 1 bài viết, dự kiến đăng trên Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tháng 1 năm 2014. Nhóm dự kiến sẽ thực hiện 3 nội dung trong năm 2014 là: Tiếp tục hoàn thiện việc theo dõi, đánh giá các mô hình gây trồng cây Mắc khén; triển khai nhân rộng tại một số địa phương của vùng Tây Bắc, Việt Nam; nghiên cứu chế biến một số sản phẩm có sử dụng hạt Mắc khén làm gia vị cung cấp cho thị trường.

 

Ths. Vũ Phong Lâm trình bày báo cáo nghiên cứu nhóm đào

Ths. Vũ Phong Lâm – báo cáo kết quả nghiên cứu đào địa phương. Kết quả thu được là: Đã thu thập được 12 cây trội, hoàn thiện báo cáo đánh giá cảm quan đào, phát hiện một số loại đào trên địa bàn, so sánh đặc điểm hình thái đào H’Mông với các giống đào khác cho thấy đào H’Mông có ưu thế hơn rất nhiều. Bên cạnh đó nhóm cũng tiến hành hoạt động ghép cải tạo, bước đầu có những kết quả tốt. Hoạt động điều tra quản lý sâu bệnh hại cũng gặp phải nhiều khó khăn vì tỷ lệ thành công của các phương pháp là rất thấp. Báo cáo cũng chỉ ra 2 vấn đề mà nhóm gặp phải là: Chưa tìm được biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại đào hiệu quả; do mới nghiên cứu được 1 năm nên mới tìm được cây đào ưu tú, chưa tìm được cây đào đầu dòng.

          Thông qua 6 báo cáo của 6 nhóm nghiên cứu, chúng ta thấy được trong năm 2013 các nhóm đã triển khai nhiều nội dung quan trọng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Quá trình trao đổi chuyên môn đã giúp các nghiên cứu có được những góp ý quan trọng phục vụ cho việc điều chỉnh các nội dung thực hiện trong thời gian tới.

Bài viết của tác giả: Đào Hữu Bính - Giảng viên Khoa Nông - Lâm

Ban thông tin website Khoa Nông - Lâm