XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH GỈ SẮT LÁ TẾCH TẠI KHU VỰC RỪNG TRỒNG TẾCH (Tectona grandis) THUỘC TỈNH SƠN LA

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Sơn La là tỉnh miền núi vùng Tây Bắc, vì vậy rừng chiếm vị trí chiến lược và có ý nghĩa phòng hộ, bảo vệ tài nguyên môi trường rất quan trọng. Nhưng thực tế cho thấy diện tích rừng của Sơn La đã và đang bị tàn phá nghiêm trọng, dẫn đến suy giảm cả về diện tích, trữ lượng và chất lượng, độ che phủ còn lại rất thấp, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng cao. Do vậy chúng ta phải đẩy nhanh tốc độ trồng rừng để khắc phục tình trạng trên. 

Tếch (Tectona grandis) là loài cây gỗ quí nổi tiếng thế giới, cây rụng lá, thân thẳng, gỗ có vân thớ vòng, kết cấu mịn đẹp, cứng và đàn hồi, ít biến dạng, chống chịu sâu mọt, hà, mục do nước biển, dễ gia công chế biến, là loại gỗ quan trọng trong việc chế tạo thuyền cho dân dụng và hải quân. Tếch còn làm gỗ xây dựng, gỗ làm cầu phà, xà, làm khung luyện gang thép, điêu khắc, dụng cụ gia đình, nội thất, …. Vì vậy, Tếch được trồng rộng rãi ở nhiều nước nhiệt đới và á nhiệt đới, từ nơi nguyên sản như Ấn Độ, Mianma, … chúng phân bố ở vùng núi thấp có độ cao dưới 800m so với mặt nước biển. Tếch không chỉ được trồng ở Sơn La mà còn ở Lào Cai, Lạng Sơn, … và phát triển mạnh ở Tây Nguyên. Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến chất lượng Tếch trồng ở Sơn La không đáp ứng được yêu cầu mục tiêu của nhà kinh doanh cũng như của người dân. Một trong những nguyên nhân không kém phần quan trọng là công tác bảo vệ rừng, phòng chống sâu bệnh hại chưa được quan tâm đúng mức.

Bệnh cây rừng là một loại tác hại tự nhiên vô cùng phổ biến. Bệnh hại thường làm cho cây rừng sinh trưởng kém, lượng sinh trưởng hàng năm của cây gỗ giảm xuống, một số bệnh hại có thể làm cho cây chết, thậm chí có thể gây chết hàng loạt. Trong các loài sâu bệnh hại chủ yếu ở rừng trồng Tếch phải kể đến bệnh gỉ sắt lá Tếch. Bệnh hại cả cây con và cây trưởng thành, lá bị hại thường rụng sớm làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây và làm suy giảm giá trị kinh tế, lợi ích sinh thái môi trường. Để có cơ sở cho việc quản lý bệnh hại này ở hiện tại và trong tương lai, nhằm tạo ra những khu rừng trồng năng suất cao và ổn định, chúng tôi tiến hành điều tra thu mẫu và xác định nguyên nhân gây bệnh làm cơ sở đưa ra một số định hướng giảm thiểu ảnh hưởng của bệnh hại đến rừng trồng Tếch tại Sơn La.

II. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được nguyên nhân gây bệnh làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng trừ nấm gây bệnh gỉ sắt trên cây Tếch.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Định loại nấm thông qua việc mô tả triệu chứng của bệnh ngoài hiện trường. Quan sát và mô tả tổ chức bị bệnh bằng kính lúp cầm tay ở các điểm điều tra tại khu vực rừng trồng Tếch và thu thập mẫu bệnh điển hình. Quan sát sợi nấm, cơ quan sinh sản của nấm tại phòng thí nghiệm bằng kính hiển vi soi nổi và kính hiển vi quang học. Trong trường hợp cần thiết tiến hành phân lập nấm bệnh trên môi trường PDA và thí nghiệm lây bệnh nhân tạo. Từ những kết quả nghiên cứu về hình thái và giải phẫu của nấm bệnh đối chiếu với các chuyên khảo định loại nấm của các tác giả Zhao Liping(1983), Ainswoth (1966), F.G. Brown(1968) và Sutton B. 1980 để định loại nấm gây bệnh.

III. KẾT QUẢ

3.1. Xác định vật gây bệnh.

a. Mô tả triệu chứng của bệnh gỉ sắt lá tếch

Bệnh do nấm ký sinh trên lá gây ra, thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 5 năm sau. Dấu hiệu đầu tiên bằng mắt thường cũng dễ dàng nhận thấy trên mặt lá xuất hiện các đốm màu nâu xám, mặt sau lá hình thành các chấm bột màu vàng da cam mọc rải rác trên đốm bệnh. Bệnh lan dần trên lá về sau bột màu vàng phủ hết cả lá. Lúc bệnh nặng gặp gió thổi bột màu vàng của bệnh bay theo chiều gió. Sau khi lây lan các lá bệnh mới xuất hiện các đốm màu vàng hình dạng kích thước khác nhau, về sau các đốm khô dần thành màu nâu sẫm, xung quanh các đốm khô thường có các viền vàng với hình dạng kích thước khác nhau.

b. Một số đặc điểm của cơ quan sinh sản nấm

Sau nhiều lần quan sát đo đếm kích thước các bào tử trên kính hiển vi quang học xác định hình dạng màu sắc và các đặc trưng khác được thể hiện như sau:

Bệnh gỉ sắt lá tếch chủ yếu là hình thành bào tử hạ trong mùa sinh trưởng. Bào tử hạ màu vàng da cam, hình trứng, hình bầu dục hoặc bầu dục dài, có gai nhỏ, kích thước 17.5 x 22.5 µm. Sợi bên mọc ở mép của bào tử hạ hoặc bào tử đông, hình ống tròn, hơi uốn vào trong màu vàng da cam, vách tế bào dày 20 - 25 µm.

c. Kết quả định loại

Trên cơ sở triệu chứng của bệnh, hình dạng và kích thước bào tử, sợi bên và tham khảo, đối chiếu với các tài liệu phân loại nấm của các tác giả. Nguyên nhân gây bệnh được xác định là do nấm Olivea tectona Thirum, thuộc chi nấm Olivea Arth, họ nấm gỉ sắt bẹ (Coleosporiaceae), bộ nấm gỉ sắt (Uredinales), lớp nấm bào tử đông (Teliomycetes), lớp phụ nấm đảm ngăn (Phragmobasidiomycetidae), ngành phụ nấm đảm (Basidiomycotina), ngành nấm thật (Eumycota), giới nấm (Fungi).

3.2. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ theo hướng IPM

Mục đích cuối cùng của nghiên cứu bệnh cây rừng là phòng trừ bệnh, bảo vệ sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng, làm tăng thêm lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái môi trường. Dựa vào những kết quả nghiên cứu trên và của các tác giả trong và ngoài nước, giải pháp phòng trừ bệnh theo hướng IPM được đề xuất với việc tuân thủ nguyên tắc “phòng là chính, trừ là phụ, lấy biện pháp kỹ thuật lâm nghiêp là chính, biện pháp hoá học là phụ, lấy phòng bệnh bảo vệ cây kết hợp với các biện pháp làm tăng sản lượng và phẩm chất của gỗ rừng”

            Trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp phòng trừ sau:

- Tại khu vực nghiên cứu nên chặt bỏ cây, lá bị bệnh nặng, nhất là vào mùa mưa độ ẩm lớn thích hợp cho nấm bệnh phát triển. Vệ sinh rừng sạch sẽ, cải thiện điều kiện sinh trưởng của cây bằng các biện pháp kĩ thuật lâm sinh và thường xuyên theo dõi để có những biện pháp ngăn chặn bệnh kịp thời, không cho bệnh lây lan và phát triển trên diện rộng.

- Chặt bỏ cây bụi, dây leo, cỏ dại trong rừng tếch, một mặt hạn chế sự cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với tếch, mặt khác sau khi xác cây bụi, cỏ dại bị phân huỷ làm tăng dinh dưỡng cho đất và phá bỏ nơi ẩn náu, hạn chế sâu bệnh hại phát sinh phát triển.

- Trong công tác quản lý lâm phần, kịp thời phát hiện và thu dọn khử bỏ nguồn xâm nhiễm bệnh là vấn đề mấu chốt của việc ngăn chặn sự lây lan bệnh. Bệnh phát dịch phải mất một thời gian dài, có thể là vài năm hoặc mấy chục năm nên chỉ cần phát hiện kịp thời và áp dụng các biện pháp chăm sóc thích hợp có thể hạn chế bệnh trong phạm vi nhỏ hoặc tiêu diệt trước khi chúng gây bệnh.

- Chọn và chăm sóc giống cây chống chịu bệnh.

- Về giống trồng: Chọn giống cây trồng rõ nguồn gốc, xuất xứ, nguồn giống không bị nhiễm bệnh, nên chọn cây giống ở xa vùng bị bệnh là tốt nhất.

- Trồng rừng hỗn giao, rừng hỗn giao có lợi cho việc phòng trừ sâu bệnh hại, các loài cây hỗn giao có thể ngăn cản các loại bệnh. Có thể trồng tếch với các loài cây như bạc đàn, keo nhưng cần tránh sử dụng những loại cây hỗn giao có hiện tượng chuyển cây chủ như thông, cà phê. Nếu không, không những không phòng được bệnh mà còn làm cho bệnh tăng lên.

- Tăng cường kiểm tra, nghiêm cấm các hành vi đốt rừng, chăn thả gia súc bừa bãi tránh gây tổn thương cơ giới cho cây tạo điều kiện để nấm bệnh xâm nhập.

- Có thể dùng các loại thuốc: Anvil 5SC, Bayfidan 250 ND, Champion 77WP, Dithane M45 - 80WP, Tilt 250 ND, Ridomil 77WP. Các loại thuốc này đã được nhân dân sử dụng để phòng trừ bệnh gỉ sắt, mốc sương, phấn trắng, đốm lá, … Nồng độ dùng là 0.1 %, lượng dùng là 1 lít nước thuốc/6m2.

IV. Kết luận

            - Xác định được nguyên nhân gây bệnh là do nấm Olivea tectona Thirum gây ra.

            - Đề xuất được một số biện pháp phòng trừ nấm bệnh dựa trên nguyên tắc tổng hợp (IPM).

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Văn Mão (1997), Bệnh cây rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
  2. Trần Văn Mão (1992), Quản lý bảo vệ rừng, tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
  3. Lê Văn Liễu, Trần Văn Mão (1974), Bệnh cây rừng, Nxb Nông Thôn, Hà Nội.
  4.  Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão (2001), Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong lâm nghiệp, Nxb nông nghiệp, Hà Nội.
  5. Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2004), Bảo vệ thực vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

Bài viết của tác giả: Trần Quang Khải, GV Khoa Nông - Lâm

Ban thông tin website Khoa Nông - Lâm