Kinh nghiệm giữ rừng từ hoạt động dự án Bếp đun cải tiến

Trong quá trình triển khai dự án Bếp đun cải tiến tại bản Nhộp, xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, Sơn La; Chúng tôi đã được tiếp xúc với cộng đồng người dân tộc Thái sinh sống xung quanh khu Rừng đặc dụng Thiên nhiên Copia. Ở đây bà con có kinh nghiệm giữ rừng rất đáng quý. Sau đây xin giới thiệu tóm tắt kinh nghiệm giữ rừng của người dân bản Nhộp

 

Hoạt động bảo vệ rừng của Người Thái tại Bản Nhộp

 

       I.            Phần Tóm tắt

-        Xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu có 30 Bản, trong đó tất cả các Bản đều được giao rừng cho cộng đồng quản lý từ năm 2003. Nổi bật trong công tác quản lý rừng cộng đồng là Bản Nhộp, Bản Nhộp là một Bản Người Thái (100%) với dân số khoảng 347 người, sinh số chủ yếu dựa vào rừng.

-        Với diện tích rừng được giao năm 2003 là 323,378ha, Bản Nhộp đã có nhiều biện pháp để bảo vệ rừng trước các tác động xấu như: Khai thác gỗ trái phép, khai thác củi bừa bãi, đốt nương, suy giảm hệ động thực vật.

-        Quá trình bảo vệ rừng của cộng đồng Bản Nhộp trước các tác động xấu.

-        Các biện pháp bảo vệ diện tích rừng của bản gồm: Cử người chốt chặn kiểm tra ở cửa rừng, vận động người dân không khai thác và vận chuyển gỗ trái phép, nâng cao ý thức bảo vệ rừng thông qua các buổi họp, tiết kiệm củi bằng việc sử dụng bếp đun cải tiến, không lấy các cây tươi, cây to để đun nấu, hạn chế đốt nương…..

-        Những kết quả thu được từ khi triển khai (cuối năm 2009) là đáng kể và cho thấy những kết quả cụ thể thu được từ những nỗ lực bảo vệ rừng của cả cộng đồng.

-        Kinh nghiệm thu được từ mô hình là bài học quý cho các địa phương khác và là cơ sở tốt cho việc ban hành những chính sách và cơ chế của Chính Phủ, chính quyền địa phương.

-        Đề xuất chính sách của Chính Phủ dành cho cộng đồng qua quá trình giữ rừng và bảo vệ rừng.

    II.            Phần nội dung chi tiết

  1. 1.      Thông tin chung

-        Bản Nhộp là một bản nghèo thuộc xã Chiềng Bôm, cách thị trấn Thuận Châu 4 km về phía Tây Nam, với địa hình chủ yếu là đồi núi, độ dốc cao, diện tích đất canh tác ít. Tổng diện tích đất tự nhiên là 435,6 ha thì có đến 323,378 ha là đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý để khoanh nuôi bảo vệ, đây cũng chính là phần rừng thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Côpia. Vì thế việc bảo vệ tài nguyên rừng ở đây có ý nghĩ rất quan trọng, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà.

-        Theo kết quả thống kê của năm 2010, toàn bản có 75 hộ dân với 347 nhân khẩu, gần 100% là người dân tộc Thái, tập trung chủ yếu ở 2 bên đường tỉnh lộ 108. Đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp, nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp. Qua kết quả điều tra xã hội học cho thấy, ngành nghề chính của người dân ở đây là làm nông nghiệp, lâm nghiệp. Tình trạng du canh, du cư không còn, song phương thức canh tác đốt nương làm rẫy cộng với tình trạng khai thác tài nguyên rừng và các lâm sản phụ từ rừng bất hợp pháp (như phong lan, mật ong, củi,…) có ảnh hưởng rất lớn đến việc gìn giữ, bảo vệ tài nguyên rừng. Đặc biệt, củi đun là một chất đốt không thể thiếu trong bất cứ gia đình nào trong bản. Hàng năm, cứ vào mùa khô họ thường vào rừng kiếm củi, chất đầy quanh nhà đủ dùng cho cả mùa mưa, nhiều gia đình còn thường xuyên khai thác củi bán để tăng thêm thu nhập. Chính vì việc sử dụng chất đốt một cách thừa thãi, không tiết kiệm, coi rừng là nguồn tài nguyên vô tận cung cấp củi đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến số và chất lượng tài nguyên rừng của Bản.

-        Nhìn chung các trạng thái rừng đã có sự thay đổi, chất lượng rừng tự nhiên giảm xuống nhiều so với bản đồ giao đất lâm nghiệp năm 2003. Nhiều cây gỗ lớn đã bị khai thác, trạng thái rừng chủ yếu còn lại là rừng nghèo kiệt, rừng non mới phục hồi, đất trống xen thực bì cỏ lau lách, lác đác cây bụi và có một số cây gỗ tái sinh.

  1. 2.      Nguyên nhân chính làm rừng của Bản suy giảm

-        Khai thác gỗ bất hợp pháp: Mặc dù đã có nhiều biện pháp hạn chế nạm chặn phá và vận chuyển gỗ trái phép nhưng tình trạng lâm tặc hoành hành vẫn diễn ra. Theo ý kiến của Ô. Lường Văn Mua trưởng Bản Nhộp cho biết thì đối tượng tham gia chặt phá là những nam giới thuộc độ tuổi trung niên, thanh niên trẻ tuổi không tham gia không tham gia vào việc chặt phá vì họ sợ bị bắt và khiển trách trước Bản. Hơn nữa, các đối tượng thuộc Bản khác thường vào rừng của Bản để chặt phá sau đó vận chuyển theo đường rừng ra bán cho các xưởng xẻ ngoài thị trấn. Thường thì việc khai thác gỗ trái phép diễn ra vào trước khi diễn ra các ngày lễ, ngày tết vì họ cần tiền để chi tiêu và thường thì họ thuộc các gia đình khó khăn.

-        Cháy rừng do đốt nương: Mặc dù hàng năm cán bộ kiểm lâm đều có những đợt hướng dẫn cách bảo vệ rừng, hận chế cháy rừng nhưng các vụ cháy vẫn thường xuyên diễn ra.

-        Phá rừng để lấy đất trồng cây nông nghiệp: Việc mở rộng diện tích trồng ngô, sắn và các cây nông nghiệm đã làm suy giảm một diện tích rừng đáng kể.

-        Khai thác gỗ làm nhà và chuồng trại: Với phong tục ở nhà sàn và hầu như tất cả các công trình của người dân tộc đều cần đến gỗ, thì việc một lượng gỗ lớn khai thác để sử dụng cho mục đích xây dựng các công trình là một nguy cơ làm ảnh hưởng đến rừng.

-        Lấy củi và các loại lâm sản phụ không có sự quản lý: Một nguyên nhân khác gây nên tác động xấu đến rừng đó là việc lấy củi của người dân, người dân không chỉ lấy củi để đun mà họ còn lấy củi để bán. Và họ không chỉ lấy những cành khô nhỏ mà đôi khi họ còn chặt hạ những cây tươi, có đường kính lớn để tiết kiệm thời gian và thu hiệu quả cao.

  1. 3.      Lịch sử hình thành rừng cộng đồng Bản Nhộp

-        Người Thái Bản Nhộp nói riêng và cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung thì rừng là tài sản quý giá nhất. Rừng là nơi che trở cho con người trước tác động xấu của thiên nhiên và rừng cũng là nơi cung cấp nguồn sống cho con người. Với cộng đồng dân tộc, cuộc sống của họ gắn chặt với rừng.

-        Từ những năm 1990, người dân Bản Nhộp đã tự mình tiến hành khoang những diện tích rừng quang Bản để quản lý trước sự chặt phá của Lâm tặc và các vụ cháy rừng.

-        Đến năm 2003, với chính sách giao đất lâm nghiệp – giao rừng của Chính phủ thì UBND huyện Thuận Châu căn cứ vào các điều 73,74,75,76,77,78,79 của Luật đất đai 1993, đã tiến hành giao cho Hạt kiểm Lâm huyện Thuận Châu tiến hành đo đạc và cấp bìa đỏ cho Cộng đồng Bản Nhộp với diện tích đất 323,38ha theo QĐ số 0027 QSDĐ/64/HQĐ-UB/2003 ký ngày 23/01/2003.

-        Từ năm 2004 – 2009 Hạt kiểm lâm tiến hành thuê diện tích rừng 500ha của Bản Nhộp với mức phí 8.500đ/ha/năm. Số tiền này được trả vào cuối năm và được cộng đồng đưa vào quỹ của Bản.

-        Căn cứ và Quyết định 710/QĐ-UBND về  việc Phê duyệt kế hoạch thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2009 cho các chủ rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La ký ngày 26/3/2009. Tháng 6 năm 2009 Sở tài nguyên môi trường tỉnh Sơn La đã tiến hành đo đạc lại diện tích đất của Bản Nhộp căn cứ vào bản đồ GĐLN-GR số 370464 của chi cục kiểm lâm và xác định diện tích rừng của Bản Nhộp hiện nay là 323,378ha. Theo Bảng thống kê diện tích đất Lâm nghiệp đã giao thì diện tích trạng thái rừng IIa là 218,997ha, trạng thái rừng IIb là 56,503ha, trạng thái rừng Ib là 10,228ha và trạng thái rừng Ic là 33,765ha. Như vậy chúng ta nhận thấy toàn bộ diện tích rừng của cộng đồng Bản Nhộp là rừng phục hồi sau khai thác và hiện tại có một diện tích không nhỏ (33,765ha) là cỏ và cây bụi.

  1. 4.      Quá trình giữ rừng của người dân Bản Nhộp

-        Như đã trình bày ở trên, từ những năm 1990 cộng đồng Bản Nhộp đã ý thức được vai trò của rừng và những lợi ích mà rừng đem lại, vì vậy họ đã cùng nhau ngồi lại và cam kết các biện pháp bảo vệ rừng. Nhưng các cam kết đó chỉ dưới dạng truyền khẩu, chưa được ghi chép và chưa có giá trị về mặt pháp lý.

-        Sau năm 2003, khi rừng đã được giao tận tay cộng đồng thì người dân Bản Nhộp đã có nhiều biện pháp hay để bảo vệ rừng, cụ thể như sau:

ü  Mỗi năm, Bản cử ra một đội gồm 8 người chịu trách nhiệm bảo vệ rừng, những người này được trả lương theo ngày công thực làm (50.000đ/ngày). Họ có trách nhiệm kiểm tra diện tích rừng của bản, xử lý các trường hợp vi phạm, đi đầu trong công tác tuyên truyền, công tác phòng cháy chữa cháy.

ü  Bản cửa ra một nhóm, những người cán bộ của các tổ chức đoàn thể trong Bản tham gia hoạt động kiểm tra và thu phí đối với việc lấy củi, lấy cây chuối từ rừng của Bản. Với mức phí dao động từ 10.000 – 30.000đ/lần lấy, việc này vừa hạn chế các trường hợp chặt các loại cây tươi và có đường kính lớn để làm củi, vừa mang lại thu nhập hàng tháng cho Bản (khoảng 200.000 – 300.000đ).

ü  Việc giáo dục ý thức bảo vệ rừng, nghiêm cấm hoạt động đốt nương diễn ra hàng năm (thường là tháng 4 và tháng 5 của mùa khô), trong các cuộc họp Bản vào đầu tháng, các hoạt động liên quan đến bảo vệ rừng cũng là một chủ điểm đưa ra thảo luận. Những cá nhân vi phạm sẽ được nêu ra để rút kinh nghiệm.

ü  Những trường hợp người dân trong Bản tham gia khai thác gỗ trái phép sẽ được các tổ chức đoàn thể trong Bản đến tận nhà vận động, khuyên bảo để họ chuyển nghề mưa sinh.

ü  Khi có hảo hoạn xây ra trên diện tích rừng của Bản hoặc của xã thì tất cả mọi người dân trong Bản đều tham gia dập lửa với những dụng cụ thô sơ như: Cuốc, dao phát, cành cây …..

ü  Khuyến khích người dân trong Bản sử dụng các loại bếp đun cải tiến để hạn chế việc lấy củi từ rừng.

  1. 5.      Lợi ích cộng đồng thu được

-        Việc giữ được rừng sẽ đem lại cho cộng đồng những lợi ích về nhiều mặt như: Kinh tế, xã hội, văn hóa….

-        Lợi ích về Kinh tế: Hàng năm Bản Nhộp có một nguồn thu đáng kể từ rừng (135.000đ/ha/năm cho chi trả dịch vụ môi trường rừng tức khoảng hơn 40 triệu, gần 4 triệu tiền thu phí khai thác củi, và nguồn gỗ cho việc dựng nhà, làm chuồng trại, nguồn măng rừng, nấm, rau rừng cho quá trình sinh hoạt….

-        Lợi ích về Xã hội: Rừng sẽ làm giảm các tác động xấu của thiên nhiên, điều hòa khí hậu, giữ nước cho phát triển nông nghiệp và sinh hoạt. Giảm bớt thời gian đi lấy nước, lấy củi của người dân, khiến họ có nhiều thời gian dành cho các hoạt động xã hội hơn.

-        Lợi ích Văn hóa: Rừng là nơi linh thiêng đối với đồng bào dân tộc, là nơi trú ngụ của các vị thần linh. Trong các hoạt động tín ngưỡng thì rừng luôn có một vai trò quan trọng, là nơi lưu giữ các giá trị tinh thần cho đồng bào dân tộc

  1. 6.      Thuận lợi, khó khăn khi thực hiện
    1. A.    Thuận Lợi

-        Cộng đồng Bản Nhộp đã được giao quyền sử dụng diện tích rừng hơn 300ha, đây là một thuận lợi lớn về mặt pháp lý để cộng đồng có thể chủ động trong việc bảo vệ và khai thác diện tích rừng của mình một cách bền vững nhất.

-        Mặt khác do địa hình vào rừng của Bản chỉ có duy nhất một con đường cho nên việc kiểm soát các hoạt động tác động xấu đến rừng cũng thuận tiện hơn rất nhiều.

-        Vì Bản Nhộp là một bản 100% người Thái cho nên lối sinh hoạt, phương thức canh tác có sự đồng nhất. Đây là một thuận lợi trong việc tác động đến những thói quen xấu của cộng đồng so với các Bản có nhiều dân tộc cùng sinh sống.

  1. B.     Khó khăn

-        Vì Bản không có cán bộ chuyên trách tham gia công tác bảo vệ rừng, hơn nữa mức phí thu được từ rừng rất thấp, không đủ chi trả cho các cá nhân tham gia bảo vệ rừng.

-        Mặc dù đã có sự cố gắng nhất định nhưng dường như việc khai thác trái phép gỗ của Lâm tặc vẫn âm thầm diễn ra. Đây là một khó khăn lớn nhất trong việc bản vệ rừng của cộng đồng, vì rất khó có thể kiểm soát được các hoạt động của bọn lâm tặc.

-        Việc phối hợp giữa các bên liên quan còn chưa thực sự hiệu quả khi mà cộng đồng Bản Nhộp chưa có nhiều tiếng nói và vai trong trong các hoat động xử lý các trường hợp vi phạm. Khi mà tính công khai và minh bạch trong các vụ việc chưa được thể hiện nhiều, điều này ảnh hưởng đến tâm lý của cộng đồng.

-        Hơn nữa việc giáo dục ý thức chỉ được thực hiện với người dân Bản Nhộp, trong khi đó các hộ dân ở các Bản lân cận cũng là đối tượng thường xuyên vào rừng Bản Nhộp để lấy củi, những hộ dân này không chỉ lấy củi để đun nấu mà họ còn lấy củi để bán. Vì vậy việc chặt các cây tươi và lớn diễn ra thường xuyên hơn vì nó sẽ cho hiệu quả cao hơn là nhặt các cành nhỏ.

  1. 7.      Kết quả thu được

-        Trước những nỗ lực của người dân Bản Nhộp thì điều mà chúng ta nhận thấy đầu tiên đó là mầu xanh đã dần trở lại, ý thức của người dân tăng lên và quan trọng hơn là nó tạo ra một nền tảng mới cho việc bảo vệ rừng của Bản Nhộp.

-        Theo như số liệu thống kê mà chúng tôi có được từ Bản Nhộp thì từ năm 1990 trở lại đây, trên diện tích rừng của Bản Nhộp chưa từng xẩy ra vụ cháy rừng nào. Các vụ cháy chỉ xây ra trên diện tích rừng thuộc quản lý của xã Chiềng Bôm và Ban quản lý Côpia

-        Không có bất cứ một hộ dân nào trong 75 hộ dân của Bản Nhộp thực hiện hoạt động đốt nương. Do đó nguy cơ cháy rừng của Bản là rất thấp.

-        Các hoạt động lấy gỗ về dựng nhà, làm chuồng trại, khai thác củi, lâm sản ngoài gỗ, đốt nương đã nằm trong sự quản lý của Bản. Điều này thực sự có ý nghĩa cho việc quản lý rừng bền vững.

-        Ý thức bảo vệ rừng của người dân tăng lên đáng kể từ khi rừng được giao cho cộng đồng và kể từ khi cộng đồng có những nỗ lực trong việc bảo vệ rừng.

  1. 8.      Bài học thu được

-        Việc giao quyền sử dụng một diện tích rừng cho một cộng đồng ở cấp Bản là rất có ý nghĩa, vì công tác bảo vệ rừng và ý thức bảo vệ rừng thuộc quyền sở hữu của Bản phát huy hiệu quả cao hơn khi diện tích rừng đó thuộc quyền quản lý ở cấp xã hoặc Ban quản lý khu bảo tồn. Người dân sẽ có ý thức bảo vệ cao hơn nếu họ có được quyền sở hữu và lợi ích từ diện tích mà họ bảo vệ.

-        Hoạt động bảo vệ rừng có được diễn ra thường xuyên, sâu sát hay không thì cần có những cán bộ chuyên trách. Họ sẽ là những người có trách nhiệm cao nhất và hiểu rõ nhất diện tích rừng của cộng đồng, họ sẽ có những đề xuất và giải pháp kịp thời cho công tác bảo vệ rừng của Bản.

-        Việc phối hợp giữa các bên liên quan trong công tác bảo vệ diện tích rừng là rất có ý nghĩa, nhưng việc phối hợp này cần được đặt trên cơ sở những quyền và lợi ích nhất định của các bên liên quan. Tất cả các bên tham gia bảo vệ rừng đều phải có tiếng nói và giá trị pháp lý trong các văn bản pháp luật như: Biên bản kiểm tra rừng, biên bản xử lý vi phạm, quá trình tịch thu, lưu kho và phát mại gỗ….Tất cả các hoạt động cần được diễn ra công khai để cộng đồng thấy được nỗ lực, tình minh bạch trong việc bảo vệ rừng của các bên liên quan.

-        Nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ rừng bằng tiếng nói của những người có uy tín, của những tổ chức đoàn thể tỏ ra rất hiệu quả. Khi các hoạt động tuyên truyền được diễn ra thường xuyên và có giá trị thực tế thì hiệu quả thu được sẽ là rất cao.

-        Một bài học thu được là tác động xấu tới rừng của Bản Nhộp không chỉ có người dân Bản Nhộp mà người dân các bản xung quang cũng có nhiều tác động xấu. Vì vậy việc giáo dục ý thức cho người dân các Bản xung quang là cần thiết và có ý nghĩa.

-        Việc nâng cao nhận thức của người già về vấn đề bảo vệ rừng là có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình nâng cao nhận thức của cộng đồng.

  1. 9.      Đề xuất chính sách

-        Việc cấp sổ đỏ diện tích rừng cho cộng đồng là một việc có ý nghĩa và tỏ ra hiệu quả trong nỗ lực bảo vệ rừng.

-        Các cộng đồng được giao rừng cần có một cán bộ chuyên trách đảm nhiệm công tác bảo vệ rừng và được hưởng các chế độ của nhà nước. Người này sẽ được Bản tín nhiệm và cử ra, người này phải có vai trò đại diện cho cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ rừng khi tham gia cùng các bên liên quan. Chữ ký của cán bộ bảo vệ rừng của cộng đồng cần phải có trong hầu hết các giấy tờ có liên quan đến rừng của cộng đồng.

-        Các vụ việc liên quan đến các hoạt động khai thác và vận chuyển trái phép các lâm sản từ rừng cần được xử lý công khai, minh bạch. Hàng năm Hạt kiểm lâm cần có một báo cáo trước cộng đồng về các vụ việc liên quan đến diện tích rừng mà cộng đồng quản lý.

-        Hiện nay, cộng đồng rất mong muốn các loại gỗ bị tịch thu từ các hoạt động khai thác trái phép sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý thì có thể giao lại cho cộng đồng để sử dụng vào các mục đích công hoặc bán lại với giá ưu đãi cho các hộ dân nhằm phục vụ mục đích xây dựng các công trình gia đinh. Việc này sẽ thúc đẩy các hoạt động tố giác các hành vi khai thác và vận chuyển gỗ trái phép và hạn chế các tác động tiêu cực trong hoạt động thanh lý gỗ.

-        Theo như phảm ánh từ cộng đồng thì họ chưa từng được tập huấn về các biện pháp chữa cháy hiệu quả, họ muốn có được các đợt tập huấn về phương pháp chữa cháy cũng như các công cụ để chữa cháy một các hiệu quả nhất.

-        Cần có nhiều hỗ trợ cho cộng đồng trong hoạt động trồng rừng trên các diện tích cỏ, cây dại và nhất là các diện tích bị cháy.

-        Để người dân không có những tác động xấu đến rừng từ các hoạt động kiếm sống hàng ngày của mình thì cần có chính sách tạo sinh kế mới cho người dân để họ có thể sống dựa vào rừng như: Khai thác lâm sản ngoài gỗ, bán cacbon, trồng nấm, nuôi ong, trồng rau rừng, trồng cây thuốc….

-        Việc sử dụng bếp đun cải tiến tỏ ra rất hiệu quả trong việc giảm lượng củi đun nấu và thay đổi loại củi đun nấu trong cộng đồng. Nếu như nhà nước có chính sách hỗ trợ người dân chi phí xây bếp đun cải tiến. Thì việc người dân chặt hạ những cây to về làm củi sẽ giảm đi rất nhiều. Vì với bếp đun cái tiến thì việc đun các loại củi nhỏ, cành khô và phế thải nông nghiệp tỏ ra hiệu quả hơn về mặt thời gian.

(Bài viết của: Đào Hữu Bính - GV Khoa Nông Lâm)

Ban Thông tin website Khoa Nông - Lâm