Kết quả bước đầu hoạt động Nghiên cứu chuỗi giá trị

Xin giới thiệu 1 số kết quả hoạt động nghiên cứu chuỗi giá trị Trong khuôn khổ dự án “Cải thiện các hệ thống sản xuất nông nghiệp và liên kết thị trường nông sản ở vùng cao Tây Bắc Việt Nam" (AGB/2008/002)”

 

BÁO CÁO KẾT VỀ NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ

(Trong khuôn khổ dự án “Cải thiện các hệ thống sản xuất nông nghiệp và liên kết thị trường nông sản ở vùng cao Tây Bắc Việt Nam" (AGB/2008/002)”

      I.            Kết quả nghiên cứu chuẩn đoán năm 2009 qua các báo cáo

  1. 1.     Sơn La
    1. a.     Nghiên cứu chuỗi giá trị Mận tại Mộc Châu
  • Chia mận làm 2 sản phẩm là Mận xanh và Mận chín
  • Chuỗi giá trị mận đi theo 3 hướng cụ thể là

*  Mận xanh bán 80% đi Trung Quốc và 20% về Hải Dương

*  Mận Chín bán tại địa bàn Hà Nội (Chợ Long Biên) và một số tỉnh thuộc khu vực Bắc bộ (Hải Dương, Thanh Hóa, Hải Phòng…)

*  Mận chín được bán tại Thành Phố Hồ Chí Minh theo đường xe tải.

 Sơ đồ 1: Chuỗi giá trị mận tại Mộc Châu sơn La

                    

  • Kết luận:

q Mận vẫn là loại CAQ có diện tích lớn và có nhiều tiềm năng để tác động phát triển đáp ứng nhu cầu của thị trường.

q Nông dân trồng mận vẫn gặp nhiều khó khăn nhất là về vấn đề kỹ thuật canh tác và chưa chủ động về thị trường tiêu thụ.

q Việc phát triển mô hình lớp học sản xuất và kinh doanh của nông dân sẽ giúp cho nông dân nâng cao kỹ năng sản xuất, khả năng phát triển thị trường và cải thiện thu nhập.

q Các cơ sở chế biến bắt đầu đa dạng hóa sản phẩm nhưng vẫn cần các hoạt động đào tạo về kỹ năng marketing và công nghệ.

  • Vấn đề cần nghiên cứu
    • Trung Quốc là thị trường tiêu thụ mận xanh lớn của khu vực, cần có những nghiên cứu về thị trường này để có những giải pháp phát triển kênh phân phối bền vững.
    • Có thêm những nghiên cứu đánh giá về nhu cầu người tiêu dùng đối với sản phẩm mận chế biến.
  1. b.    Nghiên cứu chuổi giá trị Ngô tại Sơn La
  • Nghiên cứu tại xã Phiêng Luông huyện Mộc Châu và Nà Ớt huyện Mai Sơn.
  • Những hộ có diện tích canh tác dưới 1ha được xếp vào hộ sản xuất nhỏ
  • Xác định được các tác nhân quan trọng trong chuỗi giá trị

 

Sơ đồ 2: Chuỗi giá trị Ngô tại sơn La

 

Kết luận

Ngô đóng góp lớn vào thu nhập của hộ gia đình và có vai trò lớn trong phát triển kinh tế của Sơn La

q Hộ sản xuất phải thay đổi giống thường xuyên do năng suất giảm dần

q Hộ sản xuất quy mô nhỏ có hiệu quả kinh tế trồng ngô thấp hơn nhóm hộ quy mô lớn do chi phí đầu vào cao

q Do thiếu liên kết nên hộ quy mô nhỏ có mức đầu tư chi phí cao hơn và không có khả năng mặc cả trên thị trường

q Thu gom ngoại tỉnh có vai trò quan trọng, chi phối hoạt động cung cấp đầu vào, tiêu thụ sản phẩm

q Thiếu ngô chất lượng cao cung ứng cho thị trường yêu cầu về chất lượng

q Tiềm năng nhu cầu ngô của thị trường còn rất lớn do hầu hết các công ty TACN vẫn đang phải nhâp khẩu ngô

 

  • Vấn đề cần nghiên cứu
    • Nghiên cứu nhu cầu liên kết giữa nông dân và một số tác nhân thương mại chủ chốt để xây dựng kênh phân phối bền vững, và phát triển thị trường hiệu quả

 

  1. 2.     Lai Châu
    1. a.     Nghiên cứu chuỗi giá trị Ngô
  • Đa phần ngô ở địa bàn nghiên cứu đều bán cho các hộ nông dân chăn nuôi lợn tại xã Bản Bo huyện Tam Đường.
  • Năng suất ngô rất thấp (2 tấn/ha) và đa phần người dân trồng ngô để ăn nên lượng ngô thương phẩm là không cao.

Sơ đồ 3: Chuỗi giá trị Ngô tại Lai Châu

  1. b.    Nghiên cứu chuỗi giá trị lơn Lai Châu
  • Nghiên cứu chuỗi giá trị lợn vì toàn bộ ngô đều được tiêu thụ bởi người chăn nuôi lợn nội tỉnh

Sơ đồ 4: Chuỗi giá trị Lợn tại Lai Châu

 

 

  1. c.      Kết luận

n  Tỷ lệ ngô được tiêu thụ ra thị trường thấp ( 5 – 10%) mà chủ yếu dùng cho chăn nuôi và làm lương thực

n  Chăn nuôi lợn tại một số địa phương trong tỉnh rất phát triển, lượng ngô sản xuất chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu.

n  Thị trường tiêu thụ sản phẩm thịt lợn rất tiềm năng (30 % lượng thịt phải nhập từ các tỉnh khác)

è Kết hợp giữa trồng ngô và chăn nuôi lợn để tăng giá trị cho cả 2 sản phẩm

  1. d.    Đề xuất tác động

n  Thành lập các nhóm trồng ngô kết hợp với chăn nuôi lợn tại các xã vùng dự án, Ưu tiên mô hình trồng ngô – nuôi lợn lai tại Bản Bo – Tam Đường và trồng ngô – nuôi lợn đặc sản tại Giang Ma – Tam Đường , Làng Mô, Tả Ngảo – Sìn Hồ - Lai Châu

n  Tổ chức sử dụng chung đầu vào, tiêu thụ sản phẩm

n  Tập huấn kỹ thuật trồng ngô, phòng trừ dịch bệnh và sơ chế, bảo quản sau thu hoạch cho các nhóm

n  Nghiên cứu, tìm thị trường tiềm năng tiêu thụ các sản phẩm lợn đặc sản

 


 

   II.            Kết luận

  • Các điều tra khảo sát với số liệu sơ cấp có hạn cho nên chưa phản ánh được  chi tiết các tác nhân trong chuỗi.
  • Các chuỗi mới chỉ phản ánh được đường đi của sản phẩm, còn đường đi của thông tin thì chưa có.
  • Chưa thể hiện đâu là khâu yếu trong chuỗi cần tác động để tăng giá trị cho chuỗi.
  • Các hoạt động năm 2010 vẫn chưa thể xây dựng chi tiết, cụ thể vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan: Thời gian tham gia của các bên, mùa vụ, biến động thị trường…
  • Năm 2010 TBU sẽ phải tham gia các hoạt động

* Nghiên cứu chuỗi giá trị mận xanh tại Trung Quốc hoặc Hải Dương

* Nghiên cứu chuỗi giá trị mận chín tại Hà Nội, Hải Phòng

* Nghiên cứu chuỗi giá trị ngô Sơn La – Hà Nội

 

  1. III.            Đề xuất
  • Việc điều tra nghiên cứu chuỗi giá trị cần có sự phối hợp giữa các bên tham gia một cách chặt chẽ trong cả quá trình điều tra và hoàn thiện báo cáo.
  • Trong các hoạt động cần có sự tham gia của các tác nhân thương mại và người dân để họ hiểu về các hoạt động của dự án
  • Việc lựa chọn tác nhân thương mại nên có sự xem xét kỹ lưỡng vì có nhiều tác nhân thương mại đến khi mùa vụ họ sẽ rất bận và không thể tham gia dự án được.
  • Với đặc điểm ở Mộc Châu, những tác nhân thương mại vừa thu mua Ngô, Mận xanh và Mận chín vì vậy chúng ta nên thu thâp thông tin cả 3 chuỗi trong một buổi hội thảo.
  • Việc tham gia điều tra chuỗi đến tận Trung Quốc, Hải Phòng, Hải Dương sẽ rất tốn kém chi phí nên cần có sự chuẩn bị và liên hệ trước nếu không sẽ rất tốn kém nếu không nhận được sự hợp tác. Việc cử cán bộ đi theo xe tải để thu thập thông tin là một giải pháp khả thi cả về mặt tài chính và tính trung thực của thông tin.

 (Bài viết của: Đào Hữu Bính - GV Khoa Nông - Lâm)

Ban Thông tin website Khoa Nông - Lâm