Một số thông tin về hệ thông canh tác lúa cải tiến SRI

Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System of Rice Intensification - SRI), tên gọi đầy đủ là hệ thống thâm canh tổng hợp trong sản xuất lúa, là phương pháp canh tác lúa sinh thái, mang lại hiệu quả và năng suất cao, giảm phát thải khí nhà kính dựa trên những tác động kỹ thuật nhằm giảm chi phí đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tiết kiệm nước tưới. SRI được giới thiệu lần đầu tiên tại Madagascar vào những năm 80 bởi nhà bác học Fr.Laulaniere (Pháp). Sau đó, tiến sĩ Norman Uphoff, thuộc Viện Quốc tế lương thực và phát triển thuộc Đại học Cornell tại Mỹ phổ biến rộng rãi. Đến nay, SRI được áp dụng rộng rãi ở trên 30 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Biện pháp kỹ thuật chính gồm: cấy mạ non (2,5 – 3 lá), cấy một dảnh/vị trí, cấy thưa (cấy vuông mắt sàng hay cấy dồn hàng), tưới khô ướt xen kẽ và bón phân hữu cơ. Biện pháp canh tác này đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật ở Việt Nam năm 2007; giải thưởng Bông lúa vàng năm 2012.

Tại Bắc Kạn, tùy từng giống, chân ruộng và mức độ áp dụng SRI mà năng suất lúa trung bình tăng từ 10 - 20% tương đương tăng từ 3,2 triệu - 5,8 triệu/ha/vụ. Nếu 100% diện tích lúa thuần của tỉnh áp dụng SRI: dưới 4 nguyên tắc thì chỉ tính riêng lượng tiền tiết kiệm được từ việc tiết kiệm thóc giống và năng suất tăng thì mỗi năm lượng tiền tăng lên tới 18,2 tỷ đồng; từ 4 đến 5 nguyên tắc là gần 18,6 tỷ đồng. Hầu hết các hộ nông dân áp dụng SRI đều ghi nhận cây lúa phát triển khỏe, ruộng lúa thông thoáng hơn, cứng cây hơn, sâu bệnh ít hơn đặc biệt là bệnh khô vằn, bọ rầy và sâu cuốn lá nhỏ, do đó chi phí cho việc sử dụng hóa chất trừ sâu bệnh giảm 1-2 lần/vụ, giảm trung bình 30-50% so với làm theo tập quán nông dân. Điều này góp phần tiết kiệm chi phí đầu tư cho sản xuất mà cây lúa vẫn phát triển tốt và ngăn chặn được dịch hại. Kết quả áp dụng SRI thực tế tại các ruộng chủ động nước tưới đều cho thấy có thể giảm tới 30% lượng nước tưới so với canh tác truyền thống do định kỳ rút nước 2-3 lần/vụ, điều này rất hữu ích trong điều kiện khan hiếm nguồn nước tưới như hiện nay. Mặt khác,  việc rút cạn nước theo từng giai đoạn phát triển của cây lúa (giảm giữ nước trên đồng ruộng) sẽ làm giảm độ chua, hạn chế đáng kể lượng khí methan thải vào không khí, kích thích bộ rễ phát triển, tăng khả năng đẻ nhánh, tăng khả năng chịu hạn, tăng khả năng chống đổ và tăng sức chống chịu sâu bệnh hại. Ngoài ra do bón tăng lượng phân hữu cơ, cân đối NPK nên đã làm giảm lượng đạm tự do trong đất, cùng với việc giảm sử dụng thuốc BVTV, đã giảm phát thải khí CH4, N2O - là những loại khí gây phát thải khí nhà kính, gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu.

Hoà Bình là một trong 3 tỉnh đầu tiên thực hiện các nghiên cứu cơ bản để hoàn thiện các khâu kỹ thuật trước khi phổ biến ra sản xuất. Với tỉnh Hoà Bình, sự thành công của SRI mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu cơ bản, các thực nghiệm và mô hình nhỏ, lẻ, thiếu tính lan toả và bền vững, do vậy rất cần sự vào cuộc đồng bộ của các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn, cũng như cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền bằng nhiều hình thức.

Tại Sơn La Trung tâm khuyến nông tỉnh đã tổ chức 6 điểm mô hình thâm canh lúa cải tiến theo phương pháp SRI, với 149 hộ nông dân tham gia, trên quy mô 14 ha tại 6 huyện, thành phố. Kết quả, trừ các chi phí đầu vào như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và công lao động, thu lãi trung bình 36,565 triệu đồng/ha, cao hơn so với mô hình canh tác lúa truyền thống chỉ đạt 15,410 triệu đồng/ha. Đặc biệt, mô hình vừa có hiệu quả kinh tế vừa giảm thiểu biến đổi khí hậu, tăng năng suất cây trồng, giảm giống, phân bón và rất phù hợp với điều kiện sản xuất quy mô lớn tại địa phương.

Tại Nghệ An đã tổ chức thực hiện thành công gần 30 lớp nghiên cứu cho khoảng 900 lượt nông dân và cán bộ địa phương tham gia. Qua các lớp nghiên cứu, đã lựa chọn được mật độ cấy, chế độ phân bón, chế độ chăm sóc, tưới nước phù hợp cho từng địa phương, củng cố vững chắc niềm tin của nông dân với tiến bộ khoa học trong chương trình SRI. Các lớp nghiên cứu là cơ sở và tiền đề để xây dựng mô hình ứng dụng trên diện hẹp và mở rộng phạm vi, quy mô áp dụng SRI tại vùng nghiên cứu. Kết quả các mô hình của các lớp nghiên cứu đạt được như sau: Lượng đạm sử dụng giảm 0-20%; Giống sử dụng giảm 70-80%; Thuốc bảo vệ thực vật giảm 50-100%; Chi phí tưới nước giảm 25-50%; Công cấy giảm 25%; Lãi so với canh tác theo tập quán cũ: 2.000.000-3.250.000 đồng/ha. Diện tích áp dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên địa bàn tỉnh bao gồm cả áp dụng toàn phần và diện tích áp dụng từng phần vào khoảng trên 3.000ha/năm, tập trung tại các huyện như: Yên Thành 893ha, Diễn Châu 961ha, Đô Lương 955ha… Hiệu quả kinh tế do áp dụng SRI tăng trung bình 2,75 triệu đồng/ha.

Hội Nông dân tỉnh Lai Châu đã triển khai thí điểm mô hình canh tác lúa SRI tại huyện Tam Đường. Kết thúc mô hình, bà con nhận thấy lợi ích của phương thức canh tác lúa SRI như: giảm thời gian canh tác, giảm phân bón và giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế phát sinh sâu bệnh; rễ khỏe, chịu hạn, thân cứng ít gẫy đổ, năng suất cao. Cấp ủy, chính quyền địa phương đánh giá cao mô hình canh tác thí điểm lúa theo phương pháp SRI tại bản Đồng Tâm và Nhân dân thì đồng tình, ủng hộ. Thời điểm này, 60 hộ dân trong bản đã đầu tư nhân rộng mô hình canh tác 3ha lúa theo phương pháp SRI nhằm duy trì hiệu quả sản xuất nông nghiệp thích ứng với BĐKH.

Lớp tập huấn kỹ thuật canh tác lúa cải tiến tại TP. Sơn La năm 2015.

Trước những ưu điểm của kỹ thuật SRI, các địa phương đã khuyến khích người dân tích cức thực hiện. Tuy nhiên, do ruộng đất manh mún, hệ thống tưới tiêu còn hạn chế, tập quán canh tác truyền thống nên việc nhân rộng kỹ thuật SRI chưa thật hiệu quả./.

ThS. Nguyễn Hoàng Phương - Giảng viên

Ban Thông tin website Khoa Nông - Lâm