Nghiên cứu không gian trồng cây hàng năm ở tỉnh Sơn La

Kết quả xác lập dựa trên các tiêu chí về thổ nhưỡng, địa hình, độ dốc, lượng mưa của tỉnh Sơn La. Khu vực rất thích nghi với cây hàng năm chiếm 20,98% diện tích tự nhiên, phân bố ở vùng trũng giữa núi, đồi thấp dọc theo thung lũng, gần nguồn nước tự nhiên. Không gian thích hợp cao với cây lâu năm chiếm 14,72% diện tích tự nhiên, tập trung phần lớn Chiềng Bằng, Mường Sại, Chiềng Ơn của huyện Quỳnh Nhai. Cây lâu năm rất thích hợp với loại đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để thiết lập hệ sinh thái nông, lâm nghiệp phù hợp, nâng cao năng suất, góp phần cải thiện đời sống nhân dân

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

            Những năm trở lại đây, nông nghiệp tỉnh Sơn La đã có những chuyển biến tích cực. Từ chỗ phải dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc cung cấp lương thực, người nông dân chỉ trồng một vụ lúa, đến nay nhờ xây dựng hệ thống thuỷ lợi, giống, cũng như áp dụng khoa học vào sản xuất, Sơn La đã xuất khẩu một số mặt hàng sang các địa phương khác và nước ngoài. Cơ cấu cây trồng của Sơn La khá phong phú, bao gồm: cây lương thực và hoa màu, các cây công nghiệp. Năng suất và sản lượng cây trồng có xu hướng tăng lên, nhất là trong những năm gần đây. Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở Sơn La hiện còn manh mún chưa phát triển được những vùng chuyên canh mang lại giá trị hàng hóa cao, hầu hết là địa hình đồi núi hiểm trở và bị chia cắt mạnh nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất. Do vậy, việc xác lập các khu vực sản xuất phù hợp với cây hàng năm ở Sơn La một vấn đề hết sức cần thiết hiện nay.

2. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ

2.1. Dữ liệu

Cơ sở dữ liệu bản đồ nền và chuyên đề: Bản đồ nền địa hình tỉnh Sơn La tỉ lệ 1: 50.000 (Bộ Tài nguyên và Môi trường); Bản đồ hiện trạng rừng tỉnh Sơn La  tỉ lệ 1: 100.000 (Viện Điều tra quy hoạch rừng, 2015); Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Sơn La tỉ lệ 1: 100.000, 1: 50.000 (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 2014); Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉ lệ 1: 100.000 (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La, 2015). Mặt khác, nguồn cơ sở tài liệu còn bao gồm các kết quả điều tra nghiên cứu thực địa; Các tài liệu tổng kết thực tiễn, thực hiện sản xuất của địa phương về quy hoạch phát triển sản xuất.

2.2. Phương pháp đánh giá

Việc đánh giá này được thực hiện bằng cách cho điểm các chỉ tiêu theo tài nguyên thiên nhiên, có nhân với trọng số các nhân tố ảnh hưởng đến ngành sản xuất đó.

Thang điểm được phân cấp thành các mức độ khác nhau, và chia làm 3 cấp: Rất thích hợp (3 điểm), Thích hợp trung bình (2 điểm) Ít thích hợp (1 điểm).

Bậc trọng số được tính theo ma trận tam giác, kết hợp với ý kiến chuyên gia. Điểm đánh giá chung đó được tính theo công thức:

 [3]

Trong đó: DA: điểm đánh giá chung của cảnh quan A; Ki: điểm đánh giá của yếu tố thứ i; Di: trọng số của yếu tố thứ i. Mỗi cấp thuận lợi ứng với khoảng điểm giá trị của điểm đánh giá chung. Khoảng điểm của cấp mức độ thuận lợi được tính theo công thức:

 [3]

Trong đó: D­max: điểm đánh giá chung cao nhất­­­; Dmin: điểm đánh giá chung thấp nhất; M: số cấp đánh giá. Các chỉ tiêu xây dựng trên cơ sở phân tích mức độ ảnh hưởng các điều kiện tự nhiên đến sinh thái cây trồng, với những giới hạn về mặt tự nhiên của địa phương.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Căn cứ đánh giá

Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và tập quán canh tác ở tỉnh Sơn La. Đồng thời dựa vào kết quả điều tra thực tế về các ngành có xu hướng phát triển mạnh, nhiều tiềm năng, phụ thuộc phần lớn vào tài nguyên là trồng trọt. Chúng tôi tập trung tiến hành đánh giá tiềm năng phát triển ngành này. Đề tài xác lập khu vực có khả năng phát triển cây hàng năm bền vững, phù hợp với các điều kiện tự nhiên trong tỉnh nhằm cho năng suất cây trồng cao và ổn định. Nội dung đánh giá dựa trên bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ khí hậu, bản đồ hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Sơn La. Trong sản xuất nông nghiệp, các yếu tố đóng vai trò chủ đạo là thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu và nguồn nước, mặc dù phân hóa rất đa dạng, song chúng có quan hệ chặt chẽ theo độ cao địa hình. Khi đánh giá khả năng phát triển cây hàng năm, chúng tôi không đánh giá những khu vực có rừng, hoặc thuộc quy hoạch phát triển rừng, các khu bảo tồn thiên nhiên, núi đá, cây bụi, mặt nước.

3.2. Chỉ tiêu đánh giá

Địa hình: Thích hợp cao: Nhóm cây hàng năm thích hợp ở những nơi có độ cao địa hình thấp, chia cắt nhỏ như thung lũng, lòng chảo; Thích hợp trung bình: địa hình đồi, núi thấp; Kém thích hợp: địa hình núi cao.

Về độ dốc: Độ dốc địa hình ảnh hưởng lớn đến khả năng tích tụ hay mất chất dinh dưỡng trong đất, khả năng giữ ẩm và thoát nước của đất. Những nơi có độ dốc từ < 15° thích hợp. Khu vực có độ dốc từ 15 - 25°có mức thích hợp trung bình. Nơi có độ dốc trên 25° không thích hợp.

Lượng mưa trung bình năm: Sản xuất nông nghiệp tại miền núi nơi có địa hình dốc, lượng mưa lớn, đất đai dễ thoái hóa bạc màu. Lượng mưa từ 1500 - 2000mm/năm thích hợp cho cây phát triển. Những nơi có lượng mưa trên 2000mm/năm ở mức thích hợp trung bình. Nơi mưa rất ít dưới 1500mm/năm, cây trồng ít thích nghi.

Thành phần cơ giới: Liên quan đến độ tơi xốp, độ thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng cho đất, ảnh hưởng đến mức độ sinh trưởng, phát triển của cây hàng năm. Cây rất thích hợp với loại đất thịt trung bình, thích hợp với đất thịt nặng và đất thịt nhẹ, với loại đất cát pha cây ít thích hợp.Cây hàng năm thích hợp với đất phù sa, đất dốc tụ, đó là những loại đất có tầng dầy lớn, giàu dinh dưỡng. Nhóm cây này thích hợp với địa hình thung lũng bằng phẳng, độ dốc nhỏ.

-  Xác định trọng số

Trọng số các chỉ tiêu đánh giá được xác định thông qua thuật phân tích AHP, xem xét vai trò của từng nhân tố sinh thái, trong đó yếu tố địa hình và loại đất có tầm quan trọng lớn hơn (trọng số lớn) so với độ dốc và lượng mưa.

Bảng: Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá

Stt

Loại chỉ tiêu

Trọng số

Mức độ thích hợp

Thích hợp cao

Thích hợp trung bình 

Kém thích hợp 

1

Địa hình

0,310

Thung lũng

Đồi, Núi thấp

Núi trung bình

2

Loại đất

0,247

Py, D, Fs

Fv, Ha, Fa, Fk

Hs, Hq, Hv, Fq, Nd

3

Độ dốc (o)

0,164

< 15o

15 - 25 o

> 25 o

4

Độ dài mùa lạnh

0,085

Ngắn

Trung bình

Dài

5

Lượng mưa trung bình năm (mm)

0,194

1500 - 2000

> 2000

< 1500

c. Kết quả đánh giá

            Thích hợp cao: Mức này chiếm 20,98% diện tích tự nhiên chủ yếu phân bố ở vùng trũng giữa núi, đồi thấp dọc theo thung lũng sông Đà, địa hình tương đối bằng phẳng, gần nguồn nước tự nhiên, chất lượng đất tốt, với nền nhiệt cao trên 20oC, lượng mưa dao động trong khoảng 1500 - 2000 mm/năm. Vùng này tập trung ở các xã Bó Mười, Búng Tra của huyện Thuận Châu; Mường Bú, Tạ Bú, Ít Ong, Chiềng Lao của huyện Mường La; Chiềng Ngần, Chiềng Xôm của thành phố Sơn La; Mường Bằng, Chiềng Chăn, Chiềng Ban, Chiềng Lương, Chiềng Mai của huyện Mai Sơn; dọc thung lũng sông Mã ở Chiềng En, Mường Lầm; Hay ở các xã Chiềng Đông, Chiềng Sàng, Chiềng Khoi, Viêng Lán, Chiềng Pằn của huyện Yên Châu; Mường Sang của huyện Mộc Châu.

Thích hợp trung bình:Khu vực này có tổng diện tích là 245000 ha, phân bố chủ yếu ởChiềng Pha, Chiềng Ngàm, Nong Lay, Chiềng Ly của huyện Thuận Châu; dải rác trong các xã có độ dốc 15 - 25°. Phần lớn hiện trạng sử dụng là đất trống cây bụi trên núi thấp và vườn tạp.

 Kém thích hợp: Mức này có diện tích là 116201 ha, chủ yếu là các khu vực có địa hình núi cao, độ dốc lớn. Hiện trạng là đất trống, vì vậy cần đầu tư phát triển cây lâu năm khác hoặc trồng rừng.

4. KẾT LUẬN

            Diện tích cây hàng năm ở tỉnh Sơn La trong những năm qua có tỷ lệ tăng không lớn, một mặt là do thiếu nước tưới bổ sung đối với những diện tích thường xuyên gặp khô hạn, mặt khác do tập quán canh tác của đồng bào và các điều kiện kinh tế khác. Từ những kết quả phân tích, đánh giá ở trên chúng tôi rút ra được một số nhận xét như sau: Khu vực thích hợp với sự phát triển của cây hàng năm địa hình chia cắt, độ dốc lớn, thổ nhưỡng là đất feralit, diện tích đất phù sa nhỏ. Điều kiện ánh sáng đối với cây trồng nhìn chung khá phong phú. Không gian thích hợp cao để trồng cây hàng nămphân bố ở vùng trũng giữa núi, đồi thấp dọc theo thung lũng sông Đà, địa hình tương đối bằng phẳng, gần nguồn nước tự nhiên, chất lượng đất tốt, mức này chiếm 20,98% diện tích khu vực đánh giá. Hiện nay, đối với việc trồng cây hàng năm trong cộng đồng dân tộc thái ở Sơn La thì hai vấn đề quan trọng nhất đó là xác định thời vụ, xác định cơ cấu luân canh cây trồng thích hợp đối với cây lúa và cây màu lương thực.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1]. Thành Duy (2006), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[2]. Phạm Hoàng Hải, “Nghiên cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam - phương pháp luận và một số kết quả thực tiễn nghiên cứu”, Hội thảo khoa học Địa lý lần thứ 2, Tuyển tập các báo cáo khoa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Địa lí, 2008, tr 262-274.

[3]. Nguyễn Cao Huần, Đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thái), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2005.

[4]. Isachenko, A.G, Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên. Nxb Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội, 1969.

Trần Thị Hằng - Trưởng Bộ môn QLTN&MT

TIN TỨC & SỰ KIỆN