I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC

1. Đổi mới hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý, hoạt động KH&CN ngành NN&PTNT

Khoa Nông Lâm gồm có 4 bộ môn: Bộ môn Nông học; Bộ môn Lâm nghiệp; Bộ môn Quản lý Tài nguyên và Môi trường; Bộ môn Chăn nuôi. Các ngành đào tạo: Nông học; Bảo vệ thực vật; Chăn nuôi; Lâm sinh; Quản lý Tài nguyên rừng; Quản lý Tài nguyên và Môi trường. Khoa Nông Lâm đã nắm bắt các quy định, chính sách của Nhà nước, chính quyền, cơ quan quản lý của địa phương và của Nhà trường về KH&CN, phổ biến kịp thời đến các giảng viên trong Khoa để căn cứ, áp dụng trong thực hiện các nhiệm vụ KH&CN và các hoạt động khác có liên quan. Khoa tham gia góp ý nhiều văn bản của tỉnh Sơn La, Trường Đại học Tây Bắc về cơ chế tài chính về hoạt động KH&CN trong Trường. Trong thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, giảng viên của khoa được sự thạo điều kiện, phối hợp tốt của các đơn vị liên quan trên địa bàn và các đơn vị nghiên cứu.

2. Nâng cao tiềm lực KH&CN

Khoa Nông Lâm, Trường Đại học Tây Bắc được thành lập ngày 09/01/2006. Đến năm 2020, Khoa có 41 giảng viên, trong đó: 11 tiến sĩ, 30 thạc sĩ; 01 giảng viên cao cấp, 12 giảng viên chính, 28 giảng viên. Khoa đào tạo trình độ đại học các ngành: Lâm Sinh; Quản lý tài nguyên rừng; Nông học; Bảo vệ thực vật; Chăn nuôi; Quản lý Tài nguyên và Môi trường. Từ 2013-2020 được quan tâm của Nhà trường, đội ngũ giảng viên của Khoa được tham gian các khóa đào tạo thạc sĩ, nghiên cứu sinh nâng cao trình độ. Nhà trường đầu tư các phòng thực hành, thí nghiệm, nhà lưới, chuồng trại phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học.

3. Kết quả nghiên cứu, ứng dụng KH&CN ngành NN&PTNT

Từ năm 2013-2020, Khoa Nông Lâm thực hiện 6 đề tài KH&CN cấp tỉnh Sơn La về lĩnh vực NN&PTNT với tổng kinh phí 5.659 triệu đồng; thực hiện 16 đề tài cấp Bộ về lĩnh vực NN&PTNT, tổng kinh phí 7.390 triệu đồng ; thực hiện 41 đề tài cấp cơ sở, tổng kinh phí 333 triệu đồng ; thực hiện 02 đề tài nhánh thuộc nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia với tổng kinh phí 762 triệu đồng. Đến nay, có nhiều kết quả đề tài do Khoa Nông Lâm thực hiện đã được ứng dụng trong thực tiễn sản xuất tại tỉnh Sơn La đã và đang chuyển giao có hiệu quả ngoài thực tiễn sản xuất, được doanh nghiệp và nông dân Sơn La ứng dụng, điển hình gồm có các kết quả nghiên cứu:

Hình 1. Mô hình trồng rau trong nhà vòm trong khuôn khổ dự án hợp tác với Tổ chức IFPaT – Nhật Bản

  • Nghiên cứu nuôi trồng một số loại nấm ăn (nấm rơm, nấm sò) trên phế thải nông nghiệp (rơm rạ, phế thải cây ngô, vỏ cà phê). Lõi ngô thích hợp làm cơ chất trồng nấm sò, năng suất đạt 437 kg/tấn nguyên liệu. Bổ sung thêm các chất dinh dưỡng (cám gạo, bột ngô, bột đậu tương) vào cơ chất lõi ngô trồng nấm sò đều làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế so với đối chứng. Trong đó, bổ sung 10% cám gạo cho năng suất (516 kg/tấn nguyên liệu) đạt cao nhất, năng suất tăng 9,6%, hiệu quả kinh tế tăng 23,32% so với không bổ sung dinh dưỡng. Các nghiên cứu này kết luận có thể sử dụng vỏ cà phê để trồng nấm rơm và nấm sò và đã được chuyển giao nhiều đơn vị sản xuất trong Tỉnh.
  • Phục tráng giống lúa Tẻ Dao theo hướng tăng năng suất và chất lượng ứng dụng vào sản xuất.
  • Xây dựng thành công mô hình sản xuất giống cá Nheo (Ictalurus punctatus) tại tỉnh Sơn La.
  • Xây dựng kỹ thuật nhân giống, gây trồng cây Đẳng sâm (Codonopsis javanica (Blume) Hook. f. & Thoms.) và Sa nhân (Amomum longiligulare T. L.Wu) theo hướng thương phẩm gắn với bảo vệ tài nguyên rừng tại tỉnh Sơn La.
  • Nghiên cứu sử dụng chế phẩm CFO hoạt chất curcumin chiết suất từ củ nghệ vàng phòng trừ bệnh thán thư (Colletotrichum sp.) trên cây cà phê chè tại Sơn La. Chế phẩm được cung cấp bởi Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam. Hiệu lực trừ bệnh của chế phẩm CFO cao nhất cao nhất đạt 60,90%. Tỷ lệ quả cà phê bị bệnh tại ô sử dụng chế phẩm CFO đều thấp hơn so với đối chứng không sử dụng. Tỷ lệ quả bệnh thán thư ở ô đối chứng cao nhất 17,15- 19,05%,, trong khi đó tại ô sử dụng chế phẩm CFO là 9,31-9,69%. Kết quả này cho thấy sử dụng CFO có hiệu quả trong phòng trừ bệnh thán thư hại cà phê chè.
  • Nghiên cứu sử dụng bẫy Ethanol:Methanol thu bắt trưởng thành mọt đục quả cà phê tại Sơn La. Bẫy Karomone (Methanol: Ethanol) được thiết kế bởi những vật liệu dễ kiếm, gần gũi với người dân nên người dân rất dễ áp dụng, giá thành thấp. Thử nghiệm khả năng thu bắt của bẫy Kairomone với các tốc độ bay hơi khác nhau của (Methanol: Ethanol) cho thấy tốc độ bay hơi trung bình 868 mg/ngày thu bắt được nhiều mọt đục quả nhất, tổng số mọt bị thu bắt trong mỗi bẫy trung bình là 310±14,4 trưởng thành cái. Thử nghiệm khả năng thu bắt của bẫy Kairomone treo bẫy ở các độ cao khác nhau cho thấy bẫy được treo ở độ cao 1 mét có số lượng mọt đục quả vào bẫy lớn nhất, tổng số mọt bị thu bắt trong mỗi bẫy đạt trung bình là 775 trưởng thành cái. Thử nghiệm khả năng thu bắt của bẫy Kairomone với các tỷ lệ Methanol: Ethanol cho kết quả tổng số mọt thu bắt được trong các bẫy Methanol: Ethanol có tỷ lệ 1:1 thu bắt nhiều mọt đục quả nhất, tổng số mọt bị thu bắt trong mỗi bẫy đạt trung bình là 334±27,4 trưởng thành cái.
  • Nghiên cứu phòng trừ sâu hại quả xoài bằng biện pháp phòng trừ tổng hợp tại Sơn La. Đã xây dựng được quy trình phòng trừ sâu đục quả xoài hiệu quả, an toàn ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
  • Nghiên cứu sử dụng nấm Beauveria bassiana ký sinh côn trùng trong canh tác cà phê bền vững tại Sơn La. Nghiên cứu đã phân lập được 3 mẫu nấm ký sinh trên mọt đục quả cà phê Stephanoderes hampei Ferrari; 2 chủng nấm ký sinh trên rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum Linnaeus. Nghiên cứu đặc tính sinh học của 5 chủng nấm ký sinh. Kết quả đánh giá độc tính của 5 chủng nấm ký sinh trên mọt đục quả cà phê cho thấy hiệu lực của mẫu nấm ký sinh BBMCF-CB1 đạt cao nhất (69,6%). Sử dụng mẫu nấm BBMCF-CB1 để thử nghiệm sản xuất chế phẩm nấm ký sinh, kết quả nghiên cứu cho thấy gạo hấp khử trùng là môi trường sản xuất chế phẩm tối ưu, vừa thích hợp cho sự phát triển của nấm, vừa phù hợp cho việc sử dụng chế phẩm phòng trừ mọt đục quả cà phê, rệp sáp mềm nâu. Kết quả thử nghiệm sử dụng chế phẩm sinh học phòng trừ rệp sáp mềm nâu cho thấy mức độ nhiễm rệp sáp mềm nâu giảm từ 57,78% trước phun xuống còn 5,56% sau 14 ngày sau phun.
  • Kết quả nghiên cứu, xây dựng mô hình sản xuất giống cá Nheo (Ictalurus punctatus) tại lòng hồ Thủy điện Sơn La được chuyển giao và nhân rộng
  • Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và trồng thâm canh Nghiến (Burretiodendron hsienmu Chun et How) tại các tỉnh miền núi Tây Bắc. Quy trình kỹ thuật nhân giống và trồng thâm canh Nghiến (Burretiodendron hsienmu Chun et How) được ứng dụng vào thực tiễn có kết quả tốt.
  • Quy trình kỹ thuật nhân giống và trồng cây Mạy châu (Carya tonkinensis Lecomte, 1921) được nghiệm thu và ứng dụng.
  • Kết quả nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật trồng cây Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia Hance Pilger) được ứng dụng góp phần bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học tại vùng Tây Bắc.

Hình 2. Chuyển giao kỹ thuật che phủ đất trong canh tác cà chua cho nông dân

Ngoài ra, Khoa Nông Lâm còn có nhiều kết quả nghiên cứu khác đã được chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn.

4. Đánh giá hiệu quả chính sách KH&CN

Hằng năm Khoa Nông Lâm xây dựng kế hoạch năm học căn cứ vào Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31.10.2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; định hướng KH&CN hằng năm của tỉnh Sơn La, Trường Đại học Tây Bắc. Dựa trên nhu cầu đặt hàng của địa phương, sở ban ngành trong tỉnh Sơn La, Khoa đề xuất nhiệm vụ KH&CN lĩnh vực NN&PTNT để nghiên cứu giải quyết những vấn trong thực tiễn đặt ra góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn Tỉnh.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Mặt được

  • Các hoạt động KH&CN của Khoa đã góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn tỉnh.
  • Hoạt động thực hiện các nhiệm vụ KH&CN đã nâng cao năng lực chuyên môn cho giảng viên của Khoa.
  • Kết quả nghiên cứu khoa học được đưa vào nội dung giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên trong Khoa.

2. Hạn chế

  • Tỷ lệ giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học hằng năm chưa cao.
  • Số lượng công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế còn ít.
  • Một số kết quả nghiên cứu chưa được đánh giá cao.
  • Số nhiệm vụ KH&CN trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của vùng còn chưa nhiều.

3. Nguyên nhân

  • Số giảng viên có kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế.
  • Số lượng nhiệm vụ KH&CN và kinh phí các cấp phân bổ hằng năm thấp.
  • Giảng viên còn hạn chế về ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh.
  • Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho nghiên cứu của Nhà trường chưa thực sự đầy đủ và đồng bộ.
  • Việc liên kết với các đơn vị/tổ chức trong và ngoài nước đề xuất, thực hiện nhiệm vụ KH&CN chưa được nhiều.

III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

  • Giảng viên Khoa Nông Lâm, Trường Đại học Tây Bắc tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
  • Để nâng cao chất trong hoạt động KH&CN, vấn đề cốt lõi nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Nhà trường cần tạo điều kiện nhiều hơn nữa cho giảng viên tham gia các hoạt động để nâng cao năng lực: đào tạo/tập huấn nâng cao trình độ, tham gia hội thảo/seminar khoa học, hỗ trợ giảng viên học ngoại ngữ.
  • Tỉnh Sơn La tạo điều kiện để giảng viên Khoa Nông Lâm tham gia các chương trình, dự án, nhiệm vụ KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; xúc tiến mạnh hơn nữa hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước trong hoạt động KH&CN.
  • Tỉnh Sơn La, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ KH&CN và Bộ NNN&PTNT tăng số lượng nhiệm KH&CN đặt hàng, kinh phí thực hiện hàng năm để giảng viên Trường Đại học Tây Bắc thực hiện./

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *